Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2019

Lion Rock - Sigiriya, Srilanka

Sigiriya hoặc Sinhagiri (Lion Rock Sinhalese:, tiếng Tamil:, phát âm là see-gi-ri-yə) là một pháo đài đá cổ nằm ở phía bắc Matale District gần thị trấn Dambulla thuộc miền Trung đất nước Sri Lanka. Đây là một địa điểm có ý nghĩa lịch sử và khảo cổ có một cột đá khổng lồ cao gần 200 mét (660 ft).
Theo biên niên sử Sri Lanka vào thời cổ đại Culavamsa, địa điểm này đã được vua Kasyapa (477 - 495 CE) chọn làm thủ đô mới cho triều đại của ông. Ông đã xây dựng cung điện trên đỉnh của tảng đá này và trang trí các phía mặt ngoài bằng những bức bích họa đầy màu sắc. Trên một cao nguyên nhỏ nằm ở lưng chừng của tảng đá này, ông đã xây dựng một cổng vào dưới hình dạng một con sư tử khổng lồ. Tên của nơi này bắt nguồn từ cấu trúc này - Sīnhāgiri, Lion Rock (một từ nguyên tương tự Siṃhapura, tên tiếng Phạn của Thành phố Sư tử Singapore).


Thủ đô và cung điện hoàng gia đã bị bỏ hoang sau khi nhà vua băng hà. Nơi đây được sử dụng làm một tu viện Phật giáo cho đến thế kỷ thứ 14. Ngày nay Sigiriya được UNECSO công nhận là Di sản Thế giới và được tuyên bố là kỳ quan thứ tám của thế giới. Đây cũng là một trong những di tích được bảo tồn tốt nhất về quy hoạch đô thị thời cổ đại.
Lal Srinivas và Mirando Obesekara đã mô tả Sigiriya như một bước ngoặt khảo cổ học sau lịch sử của Ravana. Theo họ, Sigiriya có thể là Alakamandava (Thành phố của các vị thần) được xây dựng trước 50 thế kỷ cách đó bởi vua Kubera, người anh em cùng cha khác mẹ của Ravana (Ravan) như được mô tả trong Ramayanaya.
Theo Palm Leaf Book (Puskola Potha) của Ravana Watha, kiến trúc sư của Sigiriya là một Danava (dòng dõi con trai Thần Brahma) tên là Maya Danava. Ông đã xây dựng Sigiriya theo những chỉ dẫn được đưa ra bởi vua Visthavasa (Vishravasamuni), cha đẻ của Ravana. Trong thời kỳ đó, Sigiriya được gọi là Alakamandava và trong thời kỳ vua Kuwera, được gọi là Cithranakuta. Sau cái chết của Ravana, Vibeeshana lên ngôi Vua và ông đã chuyển vương quốc sang Kelaniya. Theo cuốn sách này, Chiththaraja đã sử dụng Alakamandava làm nơi ở của mình. Chiththaraja cũng được cho là một trong những cá nhân đã giúp Hoàng tử Pandukabhaya có được vương quyền vì cha mẹ của Pandukabhaya được truyền thừa từ bộ lạc Chiththaraja.


Ravana Watha cũng mô tả rằng Hoàng tử Kassapa, con trai của Vua Daathusena, đã chọn Chithrakuta làm nơi ở của mình do thực tế là mẹ ông là tín đồ của Yakka và cũng là hậu duệ của họ. Vua Kassapa là vị vua duy nhất đã tái thiết và duy trì Chiththakuta như được thực hiện bởi nhà vua Ravana. Những bức tranh tường nổi tiếng ở Chiththakuta (Sigiriya về sau) có thể được coi là hiển thị cho vùng đất Sinhala, tức là Sri Lanka. Ravana Watha giải thích rằng bức tranh về người phụ nữ da màu đại diện cho bộ lạc Yakka và những người phụ nữ khác đại diện cho các bộ lạc Nāga (Serpentine), Deva (Divine) và Gandabhbha (for distinct heavenly beings), những bông hoa xinh đẹp cho thấy sự thống nhất của đất nước.
Vào năm 477 CE, Kashyapa I, con trai của vua Dhatusena với một người không phải là hoàng tộc, đã chiếm ngai vàng từ vua cha. Người thừa kế hợp pháp, Moggallana, đã trốn sang Nam Ấn Độ. Lo sợ bị Moggallana tấn công, Kashyapa đã chuyển thủ đô và nơi cư trú của mình từ Anuradhapura đến Sigiriya cho an toàn. Trong triều đại vua Kashyapa, (477 đến 495 CE), Sigiriya được phát triển thành một phức hợp với thành phố và pháo đài. Hầu hết các công trình trên đỉnh núi đá và bao bọc chung quanh, bao gồm các cấu trúc phòng thủ, cung điện và vườn hoa, đã có từ thời kỳ này.


Sử Culavamsa viết bằng tiếng Pali của hoàng gia và văn hóa dân gian mô tả Vua Kashyapa đã giết cha mình và sau đó chiếm lấy ngai vàng vốn thuộc về người anh em cùng cha khác mẹ của ông là Moggallana, con trai của Hoàng hậu Dhatusena. Moggallana trốn sang Ấn Độ và thề sẽ trả thù. Ở Ấn Độ, ông đã nuôi một đội quân với ý định trở về Sri Lnaka chiếm lại ngai vàng. Để tránh Moggallana, Kashyapa được cho là đã xây dựng cung điện cho mình trên đỉnh Sigiriya như một pháo đài và là một cung điện hưởng thụ khoái lạc. Cuối cùng Moggallana đã đến, tuyên chiến và đánh bại Kashyapa vào năm 495 CE. Trong trận chiến, quân đội của Kashyapa đã bỏ rơi ông ta và ông đã tự sát.
Moggallana đã đem Anuradhapura trở lại thành thủ đô, chuyển Sigiriya thành một tu viện Phật giáo, và tu viện đã tồn tại cho đến thế kỷ 13 hoặc 14. Sau thời kỳ này, không có tài liệu nào được tìm thấy ở Sigiriya cho đến thế kỷ 16 và 17, khi nơi đây được sử dụng như một tiền đồn của Vương quốc Kandy trong một thời gian ngắn.

Nhìn từ đỉnh Lion Rock, Sigiriya, SL. Photo by Nguyễn Diệu Tâm
Theo các nguồn tài liệu khác thì người xây dựng chính Sigiriya là Vua Dhatusena, được hoàn thành bởi Kashyapa để vinh danh cha mình. Vẫn còn có những câu chuyện khác mô tả Kashyapa là một vị vua ăn chơi, và Sigiriya là cung điện khoái lạc của ông. Ngay cả số phận của Kashyapa kết thúc cũng không rõ ràng. Trong một số phiên bản, ông bị ám sát bởi chất độc do một người hầu thiếp; ở những nguồn khác thì cho rằng ông tự cắt cổ mình khi bị bỏ rơi trong trận chiến cuối cùng. Một số nguồn khác coi nơi này là một khu vực của cộng đồng Phật giáo, không có chức năng quân sự. Địa điểm này có thể là nơi rất quan trọng trong cuộc cạnh tranh giữa các phái Phật giáo truyền thống Đại thừa và Nguyên thủy vào thời Sri Lanka cổ đại.
Vào năm 1831, Thiếu tá Jonathan Forbes thuộc trung đoàn Highlanders thứ 78 của quân đội Anh, trong khi trở về trên lưng ngựa sau chuyến đi tới Pollonnuruwa, đã gặp phải "đỉnh Sigiriya phủ đầy bụi rậm". Từ đó Sigiriya đã thu hút sự chú ý những nhà sưu tầm cổ vật và sau đó là các nhà khảo cổ học. Công việc khảo cổ tại Sigiriya bắt đầu ở quy mô nhỏ vào những năm 1890. H.C.P. Bell là nhà khảo cổ học đầu tiên tiến hành nghiên cứu sâu rộng về Sigiriya. Dự án Tam giác văn hóa (The Cultural Triangle Project), do Chính phủ Sri Lanka khởi xướng, đã tập trung sự chú ý vào Sigiriya vào năm 1982. Công việc khảo cổ bắt đầu trên toàn thành phố lần đầu tiên cho dự án này. Có một cái đầu sư tử được điêu khắc trên đôi bàn chân có móng vuốt ở lối vào, nhưng cái đầu đã bị sụp đổ nhiều năm trước.

Lối vào cung điện Sigiriya. Ảnh: Ng Diệu Tâm

Sigiriya bao gồm một tòa thành cổ được xây dựng bởi vua Kashyapa trong thế kỷ thứ 5. Nơi đây vừa là cung điện vừa là pháo đài. Cung điện phía trên đỉnh của Lion Rock bao gồm các bể chứa nước khoét từ đá nằm trên phần bằng phẳng của đỉnh núi đá, gồm một sân thượng ở giữa bao gồm Cổng Sư tử và bức tường gương với những bức bích họa, những cung điện thấp hơn nằm phía sau những khu vườn xa hoa, những hào nước và thành lũy bảo vệ cổ thành.
Hiện nay Sigiriya vẫn còn một hang động với dấu tích một bức tranh bích họa nổi tiếng gây nhiều bàn cãi.
John Still (1880 - 1941) là một nhà khảo cổ học và tác giả người Anh, được biết đến với những phát hiện tại Sigiriya và cuốn sách "The Jungle Tide". Vào năm 1907 ông đã viết về Sigiriya như sau: "Toàn bộ khuôn mặt của ngọn đồi dường như là một bộ sưu tập hình ảnh khổng lồ ... có lẽ là bức tranh lớn nhất thế giới". Các bức tranh bao phủ hầu hết mặt phía tây của tảng đá một khu vực dài 140 mét và cao 40 mét. Có nhiều tài liệu tham khảo tranh graffiti cho những bức tranh này với khoảng 500 phụ nữ được vẽ trong đó . Tuy nhiên, hầu hết đã bị biến mất vĩnh viễn. Nhiều bức bích họa khác, khác với những bức tranh trên mặt đá, có thể được nhìn thấy ở nơi khác, ví dụ trên trần ở một vị trí trong "Hang rắn hổ mang".

Một phần của bức bích họa trong hang động Lion Rock. Nguồn: Internet
Mặc dù các bức bích họa được phân loại như trong thời Anuradhapura, nhưng phong cách hội họa ở đây được coi là độc nhất; đường nét và phong cách ứng dụng của các bức tranh khác với tranh Anuradhapura.
Danh tính thực sự của những người phụ nữ trong những bức tranh này vẫn chưa được xác nhận. Có nhiều ý tưởng khác nhau về danh tính của họ. Một số người tin rằng họ là những thê thiếp của nhà vua trong khi những người khác nghĩ rằng họ là những người đàn bà đang tham gia vào các hoạt động tôn giáo. Và những bức ảnh này rất giống với những bức tranh được nhìn thấy trong hang động Ajanta ở Ấn Độ.

Trích dịch từ nguồn Wikipedia english.
Photos by Dieu Tam Nguyen
Sri Lanka 3-2019

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

CUNG ĐIỆN EKATERINA, SAINT PETERSBURG.

CUNG ĐIỆN EKATERINA (CATHERINE PALACE)
Phố Garden, 7, Pushkin, St. Petersburg, Nga, 196601
Cung điện được xây theo lối kiến trúc và phong cách Baroque ở Pushkin, St. Petersburg nước Nga. Cung điện được xây dựng vào năm 1717 và được Peter Đại đế xây dựng cho vợ ông, sau này là nữ hoàng Catherine I.
Ban đầu, cung điện là một tòa nhà hai tầng nhỏ do Peter xây dựng cho Catherine vào năm 1717. Tòa nhà được con gái họ là Nữ hoàng Elizabeth, người đã chọn Tsarskoe Selo làm nơi ở chính vào mùa hè. Kể từ năm 1743, tòa nhà đã được tái thiết bởi bốn kiến trúc sư khác nhau, trước khi Bartholomeo Rastrelli, Kiến trúc sư trưởng Tòa án Hoàng gia, đã được hướng dẫn để thiết kế lại tòa nhà làm kiến trúc bên trong với Versailles.
Cuối cùng, cung điện hoàn thành vào năm 1756, có chu vi gần 1 km, với những mặt tiền trắng và xanh được trang trí công phu với các tác phẩm điêu khắc. Trong thời đại của Elizabeth, cung điện được dát hơn 100kg vàng để trang trí các tòa nhà bên ngoài cung điện đã khiến mẹ bà Catherine ghét bỏ bà vì đã tiêu tốn nhiều tiền của của đất nước.


Nội thất của Cung điện Catherine không kém phần lộng lẫy với các phòng Golden Enfilade, điểm tham quan hấp dẫn du khách đặc biệt. Bậc thang trong cung điện có những bức tường trang trí hoa văn và những viên cẩm thạch lát đá cẩm thạch tuyệt đẹp. Khu vực Đại lễ đường, còn được gọi là Hall of Light, có diện tích gần 1.000 mét vuông, và chiếm toàn bộ chiều rộng của cung điện có hai bên vô cùng lộng lẫy. Các cửa sổ vòm lớn, nơi ánh sáng chan hòa ùa vào cùng điện càng làm lóng lánh những bức tường trang trí mạ vàng, và toàn bộ trần nhà được bao phủ bởi một bức tranh tường hoành tráng mang tên "Nước Nga huy hoàng". Sử dụng các kỹ thuật tương tự nhưng ở quy mô nhỏ hơn, Phòng Ăn Trắng cũng sang trọng nhưng cũng giống như nhiều phòng trong cung điện, sự sang trọng với bếp lò gạch trắng và các góc màu trắng tinh khiết.

 


 Cung điện Ekaterina được xếp hạng là một trong những cung điện lộng lẫy và nguy nga nhất trên thế giới. Trong đó có căn phòng Hổ Phách (Amber Room), được ví như kỳ quan thứ tám của thế giới, hiện nay là điểm tham quan có sức hấp dẫn lớn nhất đối với du khách khi đặt chân đến nơi đây. Phòng Hổ Phách có nguồn gốc từ vương quốc Phổ. Vào năm 1716 trên đường công du sang Pháp, Pierre Đại Đế đã có cuộc gặp lịch sử với Hoàng đế Phổ Friedrich Wilhelm I tại Gabelberg, và Friedrich Wilhelm I đã dâng tặng Phòng Hổ Phách cho Pierre Đại Đế đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong quan hệ giữa hai cường quốc Nga - Phổ. Thời gian đầu Phòng Hổ Phách được bài trí tại Cung Điện Mùa Đông, nhưng vào tháng 7 năm 1755 nữ hoàng Elizabeth Petrovna Romanova ra lệnh chuyển về Cung điện Ekaterina.


Để tạo ra căn phòng đặc biệt này, Rastrelli đã sử dụng các bức tranh khảm hổ phách ban đầu trong một phòng Amber ở Lâu đài Konigsberg và tặng cho Phero Đại Đế. Viền quanh những bức tranh được chạm khắc bằng vàng, những tấm gương, những tấm bảng màu hổ phách do Florentine và người thợ thủ công người Nga (bao gồm tổng cộng 450kg hổ phách) và đá quý Ural và Caucasus. Căn phòng được hoàn thành vào năm 1770. Sau đó, căn phòng vẫn liên tục được bảo quản, trùng tu 3 lần trong thế kỷ 19. Căn phòng còn là nơi cất giữ một bộ sưu tập đáng kể các tác phẩm màu hổ phách và đồ sứ Trung Quốc. Năm 1941, khi quân Đức chiếm Tsarskoe Selo, Phòng Amber đã được tháo dỡ trong 36 tiếng đồng hồ, và được vận chuyển tới Konigsberg. Khi Đức quốc xã sụp đổ, các hiện vật được di chuyển khỏi nguy hiểm nhưng đến nay không biết chính xác chúng được cất giữ ở đâu.




Năm 1982, Phòng Hổ phách được đề nghị trùng tu, sửa chữa và phải mất hơn 20 năm và tốn kém hơn 12 triệu đô la. Được mở vào năm 2003 bởi Tổng thống Vladimir Putin và Chancellor Gerhard Schroeder, Phòng Amber Phục hồi là một tượng đài thật sự độc đáo, và là một minh chứng cho sự chăm sóc siêng năng của các thợ thủ công đã làm việc tái hiện kiến trúc ban đầu.
Trong cung điện Catherine, còn có nội thất đáng chú ý nhất là trong những căn phòng Cameron và nội thất trang trí thời kỳ Catherine Đại đế với kiến trúc sư được sủng ái Charles Cameron. Ưu điểm trong thiết kế của ông là tính đối xứng cổ điển và màu sắc tuyệt vời trong Phòng ăn Green quyến rũ, được trang bị cho Paul, con trai của Catherine và phòng vẽ xanh với hình nền lụa màu xanh lam và sơn tuyệt vời. Rực rỡ hơn và cũng không kém phần quyến rũ, phòng khách màu xanh dương Trung Quốc cũng có màu sơn tinh tế với bức vẽ cảnh quan tỉ mỉ của Trung Quốc.

Nguồn: Du lịch Việt Nam.
Photos by Dieu Tam Nguyen
More: https://commons.wikimedia.org/wiki/Category:Catherine_Palace

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019

Dưới mặt trời và Neva mù sương

Những ngày ở Saint Petersburg, với tôi là những ngày rất đẹp và cảm xúc lạ kỳ với những đêm trắng lần đầu tiên thưởng thức. Ngày nào cũng vậy, cứ đi từ sáng đến tối vẫn chưa muốn về ngủ vì ngày vẫn còn. Mặt trời lặn sau 11 giờ đêm nhưng vầng ánh sáng đỏ hồng vẫn còn vương vấn để 3 giờ sáng lại bừng lên rực rỡ đón bình minh. Bạn không thể hiểu được sự kỳ diệu của màu sắc đó lan tỏa làm rung động đến trái tim tôi như thế nào! Ước gì ... con người chúng ta cũng được như thế, cuộc đời chỉ là những bình minh tiếp nối, sẽ không có chỗ cho đêm dài ngự trị! 
Ngày cuối ở Saint Petersburg, trước khi ra sân bay vào buổi trưa, chúng tôi lại có đủ thời gian cho buổi du ngoạn trên dòng sông Neva để được nhìn thấy khá trọn vẹn đế đô phương bắc này.
Hôm ấy trời nắng đẹp, dòng sông xanh ngắt, và mọi người đã có những shots hình sáng đẹp.
Trên sông Neva, Saint Petersburg. Photo: Nguyễn Diệu Tâm
Petersburg có tới 3.700 di tích lịch sử và văn hóa cỡ địa phương. Những công trình này đại diện cho tất cả các phong cách kiến trúc của ba thế kỷ, bắt đầu từ phong cách Baroque. Trước khi tháp truyền hình được xây dựng với chiều cao 316 m, điểm cao nhất thành phố là nóc nhọn của pháo đài Petrovalovskaia - 122,5 m.
Petersburg nằm ngay trên bờ một con sông có lưu lượng lớn nhất châu Âu - sông Neva với chiều rộng trong phạm vi thành phố tới 650 m và độ sâu tới 14 - 23 m. Những chiến hạm lớn có thể đi vào được con sông này để tham dự các cuộc diễu hành của hải quân. Thành phố tọa lạc trên 42 hòn đảo của châu thổ sông Neva. Trong phạm vi thành phố có hơn 40 chi lưu, con ngòi và gần 20 kênh đào được nối liền với nhau bằng gần 300 cây cầu hết sức đa dạng. Toàn bộ chiều dài được ốp đá hoa cương của các con kênh và sông là 150 km.
Petersburg chiếm vị trí mốc son trong nhiều sự kiện vinh quang của lịch sử nước Nga. Trên bờ sông Neva người ta đã đóng chiếc tàu thủy đầu tiên chạy bằng hơi nước của Nga mang tên "Elizabeta", là nơi ra đời chiếc tàu chiến đầu tiên của Nga "Thần tốc", còn trong thời đại mới là chiếc tàu phá băng nguyên tử đầu tiên, chiếc tàu sinh thái chuyên dụng đầu tiên của Nga.
Tại Petersburg đã thành lập phòng thí nghiệm hóa học đầu tiên trong nước của Lomonosov, nơi khám phá ra định luật tuần hoàn của Mendeleev, và diễn ra những thí nghiệm của Pavlov.
Chiến hạm Aurora "Rạng Đông" bên sông Neva. Photo: Nguyễn Diệu Tâm
Dòng sông Neva này có chiều dài 74 km, chảy từ hồ Ladoga qua eo đất Karelia và thành phố Sankt-Peterburg vào vịnh Phần Lan. Đoạn chảy qua Sankt-Peterburg dài 28 km. Tính theo đường chim bay thì khoảng cách từ thượng nguồn đến hạ lưu sông dài 45 km.
Sông Neva là phần nằm xa nhất về phía tây bắc của tuyến đường thủy Volga-Baltic, nối liền sông Volga, hồ Onega, hồ Ladoga và biển Baltic. Tuyến đường thủy này có thể cho các tàu sông lớn nhất qua lại dễ dàng, và nó là một phần quan trọng trong giao thông thủy giữa Sankt-Peterburg và Moskva.
Trong thời Trung cổ, con sông rộng và đi lại dễ dàng này là hành trình thương mại quan trong của người Varjag tới những người Hy Lạp, nối liền việc vận chuyển hàng hóa từ biển Baltic sang sông Volga dẫn tới phương Đông, và cũng là một phần của tuyến giao thông thủy Bạch Hải-Baltic.
Dòng sông Neva cũng là địa điểm lịch sử diễn ra trận chiến trên sông nổi tiếng năm 1240. (2)
Pháo đài Petro-Pavlov. Ở giữa là tháp mạ vàng của Tu viện Petro-Pavlov.

Trong thế kỷ 16, cửa sông Neva là địa điểm xây dựng pháo đài Nyen của người Thụy Điển, và trên bờ lạch nhỏ dẫn tới hồ Ladoga là pháo đài Oreshek của người Nga, sau này được đổi tên thành Shlisselburg. Pháo đài đầu tiên sau này được thay thế bằng pháo đài Petropavlovskaija năm 1703. Nằm trên đảo Zayachii (đảo Thỏ), pháo đài này được coi là công trình xây dựng đầu tiên của Sankt-Peterburg ngày nay.
Neva cũng được đặt tên cho tàu chiến nhẹ ba cột buồm đầu tiên của Nga dài 61 mét (200 ft), để đi vòng quanh Trái Đất vào năm 1804 dưới sự chỉ huy của thiếu tá hải quân Urey Fedorovich Lisianski. 
Anna Akhmatova by Natan Altman, 1914, State Russian Museum

Nhà thơ nữ Nga nổi tiếng của thế kỷ 20, Anna Akhmatova (1889-1966), người được mệnh danh là "Bà chúa thơ tình Nga", "đêm trắng của thi ca Nga", từng được đề cử trong danh sách xét giải Nobel Văn học 1965-66. đã đưa hình ảnh dòng sông Neva vào trong nhiều bài thơ của bà:
"Anh không đi tìm những khoảnh khắc đầy hoa
Bờ môi em, Cassandra, hay ánh mắt
Nhưng những đêm không ngủ trong tháng chạp
Kỷ niệm xưa vẫn hành hạ hai ta.
Năm 1917, trong tháng chạp
Ta đã để mất tất cả, trong tình
Một người bị ý chí nhân dân cướp bóc
Còn người kia tự cướp bóc chính mình…
Rồi thủ đô sẽ có một khi nào
Trên bờ sông Nê-va, trong ngày lễ
Trong tiếng ồn đêm hội rất kinh sợ
Ai giật chiếc khăn tuyệt đẹp trên đầu". (3)
.....
Trước nỗi đau này rừng cúi xuống
Và dòng sông rộng lớn cũng ngừng trôi
Nhưng những cánh cửa nhà tù chắc nặng
Còn đằng sau là những kẻ khổ sai
Và nỗi buồn đau chết người.
Giờ đang thổi cho ai cơn gió mát
Và chỉ dành cho ai đấy hoàng hôn
Còn chúng tôi giờ đây, không biết được
Nghe khắp nơi tiếng cổng khoá đau buồn
Và nặng nề tiếng người lính giậm chân
Như đi vào lễ mi sa buổi sáng
Vào kinh đô của chết chóc, hoang tàn
Nơi đó gặp những người sắp chết
Dưới mặt trời và Nê-va mù sương (4)
........

(1) "Dưới mặt trời và Neva mù sương" -
Trích thơ Anna Akhmatova
(2) Trận sông Neva xảy ra giữa quân đội Cộng hòa Novgorod và quân Thụy Điển trên sông Neva, gần khu định cư Ust-Izhora vào ngày 15 tháng 7 năm 1240. Quân Thụy Điển đã xâm lược Novgorod có lẽ là để giành quyền làm chủ cửa sông Neva và thành phố Ladoga để lấy thế mà chiếm đoạt phần quan trọng nhất của Con đường buôn bán từ người Varangoi đến người Hy Lạp, vốn đã nội thuộc xứ Novgorod trong suốt hơn 100 năm. Trận đánh này là một phần của các cuộc chiến tranh Thụy Điển-Novgorod thời Trung Cổ.
(3) Trích "Gửi Cassandra", thơ Anna Akhmatova.
Bản dịch: Nguyễn Viết Thắng
(4) "Lời Dâng", thơ Anna Akhmatova,1940.
Bản dịch: Nguyễn Viết Thắng
Viết theo nguồn Wikipedia & 177 nhathonga.
Ảnh: Dieu Tam Nguyen

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2019

Trên dòng sông Moskva ngày mưa

Trước đây mỗi lần nghe về nước Nga, tôi chỉ biết đến Nga có con sông Volga dài nhất và Danube là con sông dài thứ hai của châu Âu. Khi đến Moscow, trong chương trình có đi dạo thuyền trên sông, những tưởng sẽ được ngắm dòng sông Volga nổi tiếng này như đã được dạo trên sông Danube trong chuyến đi Hungary mùa thu năm ngoái, nhưng không phải Volga, mà là sông Moskva. Có một chút thất vọng, tuy nhiên dòng sông nào cũng cho tôi sự tò mò thích thú. Trong mỗi chuyến đi bất kỳ có dịp nào đi ngang qua một dòng sông tôi cũng thấy có một cung bậc cảm xúc rất khác. Sông nước luôn tạo một cảm giác êm đềm, và những chuyến đi trên sông bềnh bồng trên sóng như lắng nghe những dòng sông thủ thỉ kể chuyện đời mình. 


Buổi sáng ngày thứ hai đến Nga, sau khi tham quan cung điện Gỗ, chúng tôi lên tàu ra sông. Hôm ấy trời có mưa nhỏ, khá lạnh dù đang là mùa hè. Thì ra dòng sông này là sông nhánh phía tả ngạn của sông Oka đổ vào sông Oka cạnh thị trấn Kolomna. Sông Oka lại là sông nhánh của sông Volga. Chiều dài của dòng sông là 503 km bắt nguồn từ vùng đầm lầy Starkovskoe trong khu vực bình nguyên Smolensk-Moskva. Các sông nhánh chính tả ngạn là Ruza, Istra, Yauza, Pakhra và Severka.
Thành phố Moskva nằm trên hai bờ sông Moskva được đặt theo tên của con sông này. Nguồn gốc của tên gọi có một số giả thiết tồn tại. Một trong các giả thiết là tên gọi này có từ tiếng Phần Lan cổ, có nghĩa là "tối", "đục". Theo một giả thiết khác, tên gọi này có nguồn gốc từ tiếng Komi, với nghĩa là "sông của bò" hay từ tiếng Mordovia với nghĩa là "dòng sông của gấu". 


Nhìn dòng sông xuôi dòng êm ả không thể biết được hàng năm từ tháng 11 đến 12 nó bị đóng băng và nằm dưới băng cho đến cuối mùa xuân vào tháng 3-4. Chúng tôi may mắn đến vào mùa hè khi băng đã tan và cuộc du ngoạn trên sông cũng không kém phần hấp dẫn.
Sông Moskva cho phép tàu thuyền đi lại trên quãng đường khoảng 210 km tính từ cửa sông. Nước của sông này được dùng để cung cấp nước ngọt cho thành phố Moskva. Dành cho mục đích vận tải thủy trong giới hạn thành phố Moskva người ta đã xây dựng các đập chắn nước Karamyshevskaya và Perervinskaya, ở phía dưới là các đập chắn nước có âu thuyền. 


Một người đàn ông trên tàu trầm ngâm nhìn ra dòng sông nói với tôi rằng sông Moskva không đẹp và ngoạn mục bằng sông Seine của Paris hay sông Amstel của Hà Lan. Có lẽ vì nhiều nguyên nhân, do thời tiết hôm nay u ám, do hai bên bờ sông không lộng lẫy như Danube đoạn chảy qua Budapest có nhiều cung điện đền đài hay sông Seine trôi qua những địa danh di sản như Nhà thờ Đức Bà Paris, bảo tàng Louvre, điện Versailles, tháp Eiffel... mà cũng có thể tùy vào sự cảm nhận của mỗi người. Trong một tấm bản đồ tôi thấy có nhiều nhà thờ nổi tiếng nằm trên hai bờ sông, và thực tế cũng nhìn thấy nhưng không rõ đó là địa điểm nào.


Cũng như khi đi trên sông Danube tôi được nghe bài hát Dòng sông xanh (Le Danube Bleu), hay trên sông Seine lại nhớ về bài thơ của Jacques Prevert "La Seine a de la chance" (Dòng sông Seine may mắn) thì hôm nay trên sông Moskva chúng tôi được nghe những bài hát Nga một thời đã nghe ở quê nhà như Chiều Mạc Tư Khoa, Triệu đóa hoa hồng (Million roses) kể chuyện tình tuyệt vọng của chàng họa sĩ nghèo yêu nàng ca sĩ hay Tình ca Kachiusa về một thiếu nữ chờ đợi người yêu gia nhập quân đội ... Âm thanh không rõ lắm, khào khào buồn buồn khi trời đang lộng gió và mưa lất phất bay về, những ngọn sóng vỗ vào mạn tàu như đang thì thầm kể cho khách phương xa nghe về những thăng trầm của lịch sử nước Nga mà dòng sông đã chứng kiến bao thế kỷ qua. 

Du lịch Nga tháng 6-2019
Nguyễn Diệu Tâm

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

PHỐ CỔ ARBAT, MOSCOW

Ngày thứ ba ở Moscow, chúng tôi đi đến con đường Arbat bằng metro trước khi ra sân ga đi St. Petersburg vào buổi trưa. Sau khi thưởng thức không gian kiến trúc mỹ thuật ở những trạm tàu đi qua, rời nhà ga Moscow metro chúng tôi đi về hướng Arbat.
Được hình thành từ năm 1493, phố cổ Arbat là điểm du lịch Nga nổi tiếng. Nơi đây mang đậm dấu ấn kiến trúc và văn hóa Nga với vẻ đẹp độc đáo kỳ diệu và quyến rũ mà không phải nơi nào cũng có được. Người ta thường nói nếu gọi điện Kremlin là trái tim của Moscow thì Arbat chính là tâm hồn của thành phố này.



Phố cổ Arbat đã trải qua lịch sử hơn 500 năm. Từ thế kỷ XVI đây là nơi sinh sống của những người thợ rèn, thợ thủ công chuyên phục vụ cho giới quý tộc trong Điện Kremlin. Phố cổ cũng từng là nguồn cảm hứng của giới văn nghệ sĩ trong nhiều tác phẩm văn học, những bài hát nổi tiếng gắn liền với lịch sử thăng trầm của nước Nga.
Năm 1736 sau một trận cháy lớn, những ngôi nhà bằng gỗ ở phố Arbat vào thời đó phần lớn đã bị phá hủy. Sau đó trên con phố này bắt đầu xuất hiện các ngôi nhà được làm bằng đá của những nhà quý tộc chuyển tới sống tại đây. Nơi đây có nhiều gia tộc Nga sinh sống như Gagarin, Tolstoy, Dolgoruky, Rostopchin, các văn sĩ nổi tiếng như Pushkin, Gogol, Chekhov, …và hàng loạt địa chỉ từng gắn liền với tên tuổi những đại thụ văn hóa Nga, như nhà hàng Prague, quán cà phê "Tầng hầm Arbat" nơi các nhà văn lớn như Anton Chekhov, Lev Tolstoy, các nhà thơ Vladimir Mayakovsky, Sergey Yesenin thường gặp gỡ.






Từ cuối thế kỷ XIX, diện mạo của phố cổ Arbat được thay đổi, chuyển từ hình thái quý tộc sang hình thức thương gia, trí thức. Nơi đây bắt đầu xuất hiện các ngôi nhà 3 – 5 tầng với các căn hộ riêng, những quầy hàng, cửa hiệu thời trang, nhà hàng, những quán cà phê xinh xinh bên vỉa hè như trên một số con phố ở Paris.
Trung tâm của phố là con đường nhỏ dài 1,2 km dành cho người đi bộ.
Dọc theo hai bên phố, có những quầy sách, cửa hàng tranh tượng, cùng hàng lưu niệm thủ công mỹ nghệ Nga đặc trưng của Nga như búp bê Matryoshka, gốm sứ Gzhel hay ấm trà Samovar... Du khách cũng dễ dàng tìm thấy những tác phẩm văn học của các nhà văn lừng danh tại Nga vào thập niên 60 - 80.
Điều đặc biệt ấn tượng nhất của con phố chính là không gian nghệ thuật độc đáo, nhiều sắc màu khi thường có mặt các nghệ sĩ đường phố trình diễn nhiều các tiết mục thu hút hoặc các dịch vụ đọc và hát thơ thuê.


Từ đầu con phố Arbat cổ có nhà lưu niệm "mặt trời thi ca Nga", số 53, bên ngoài là tượng Đại thi hào Nga Puskin (1799-1837) và Natalia Goncharova, người vợ xinh đẹp của ông. Tượng bằng đồng, cao hơn 3m sinh động như họ đang dạo bước trên phố Arbat hay đi dự một vũ hội nào đó, mãi mãi bên nhau dù thực tế cuộc đời đại thi hào đã kết thúc bi kịch sau một cuộc đấu súng.


Dự án chuyển phố Arbat cổ thành phố đi bộ được tiến hành trong giai đoạn 1974-1986. Ngày nay, Arbat cổ là con phố đi bộ chính và là một trong những thắng cảnh nổi tiếng nhất của thủ đô Moscow.
Hôm ấy trời âm u và có mưa nhỏ, tôi đi dọc trên con đường thênh thang khá vắng người có lẽ vì trời mưa, chỉ có một số cửa hàng và quán cà phê mở cửa với những chậu hoa trắng và đỏ rực rỡ. Nhiều nhất là những quầy bán tranh. Dường như phố chỉ đông đúc hơn vào buổi chiều hoặc vào ngày cuối tuần. Tuy nhiên được đi dạo trên con phố từng nổi tiếng trong văn học này dưới cơn mưa lất phất bay cũng làm tâm hồn mình lắng đọng và bay bổng mơ màng theo những câu chuyện cổ tích và lịch sử nước Nga được các họa sĩ nghệ nhân thổi hồn vào những mặt hàng lưu niệm và tranh ảnh độc đáo trên con phố.

Tháng 7-2019
Viết theo nguồn Du lịch.
Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2019

Quảng trường Stephan và nhà thờ St. Stephandom, Wien.

Sau bữa ăn tối, chúng tôi đi dạo phố  Wien (Vienne). Ngân, người hướng dẫn hỏi có ai muốn đi viếng nhà thờ thì theo Ngân về phía quảng trường hơn 100 m nữa, còn lại ai muốn shopping thì loanh quanh ở phố và sẽ đến chỗ hẹn trước 9:00 pm. Tôi chọn đi theo nhóm đến nhà thờ cùng với một số chị em đạo Thiên chúa. Đêm trên phố cổ Wien hơi tối, có đoạn rất tối. Thấp thoáng vài bóng xe ngựa đã về bến nghỉ ngơi. Đêm lạnh, những chú ngựa cũng được trùm chăn đứng lặng yên ngủ không phải trong tàu cỏ mà là giữa trời đêm sương xuống trong khoảng sân trống ở quảng trường Stephan.
Trong đêm, hình ảnh vĩ đại của ngôi nhà thờ nổi tiếng lôi cuốn tôi đi tới. Thoáng chốc trong giây phút, cả nhóm người đi cùng tôi biến đâu mất. Vậy là tôi phải đi vòng quanh nhà thờ vừa ngắm vừa tìm! Hầu như ba mặt đều tối, chỉ có mặt tiền có đèn chiếu sáng và phía đối diện có nhiều cửa hiệu còn mở cửa. 







Nhà thờ St. Stephen (tiếng Đức: Stephansdom) là một trong những điểm tham quan hấp dẫn nhất ở Wien, đã có mặt nơi đây hơn 800 năm. Đây cũng là nhà thờ quan trọng nhất ở Wien, là nhân chứng chứng kiến những sự kiện quan trọng trong lịch sử của Áo.
Nhà thờ được xây dựng theo phong cách kiến trúc Roman và Gothic trên tàn tích của hai nhà thờ cũ. Đầu tiên được xây dựng tại địa điểm này từ thế kỷ thứ tư. Phần lâu đời nhất của nhà thờ St Stephen còn sót lại cho tới nay là các tòa tháp được xây dựng từ thế kỷ 13. Năm 1258, nhà thờ bị phá hủy bởi một vụ cháy lớn. Sau đó, vua Albert I cho mở rộng và xây dựng lại nhà thờ vào năm 1304. Đến năm 1359, vua Rudolf IV tiếp tục mở rộng quy mô của nhà thờ.
"Người Vienna gọi nhà thờ của họ là "Steffl", tên chính thức là nhà thờ lớn St. Stephan ở Wien. Nhà thờ đã trở thành biểu tượng của thủ đô nước Áo và là một trong những công trình kiến trúc kiểu Gothic quan trọng nhất nước này - dù thực ra công trình này vẫn chưa được hoàn thành. Nhà thờ có 4 tháp, nhưng tháp ở hướng bắc chưa bao giờ được hoàn thiện và chỉ cao 68m. Tại đây có treo bộ chuông lớn thứ 3 của châu Âu và được đúc từ súng đạn của quân thù vào năm 1683.
Tháp cao nhất của nhà thờ nằm ở phía nam và cao 136m. Mặt tiền phía tây của nhà thờ vẫn còn được giữ lại từ nhà thờ cũ được xây và hoàn thành cũng tại chính địa điểm này vào năm 1245.
Có một số tượng điêu khắc bên ngoài rất đẹp. Rất tiếc là đã khuya nên nhà thờ không mở cửa cho vào bên trong tham quan. Vậy là đành đi ra quảng trường và trở về khu phố trung tâm.




Dieu Tam Nguyen