Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

QUẢNG BÌNH, TRONG MÙA TRĂNG THÁNG BẢY



Những ngày đầu tháng 9- 2017, nhằm vào mùa Vu Lan, ngay sau ngày 16 âm lịch, cùng với Hội tình nguyện Chung tay vì cộng đồng (CTVCĐ) và Hiểu & Thương (H&T) chúng tôi lại lên đường về miền Trung.  Vào mùa thu năm ngoái cũng vào tháng 9 là chuyến đi khánh thành nhà bán trú trường PTCS Dân tộc Trà Thanh ở huyện Tây Trà, một huyện nghèo nhất tỉnh Quảng Ngãi, thì năm nay chúng tôi về khánh thành điểm trường Hưng trường mầm non số 1 Xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình.
Buổi chiều ngày 7/9, đáp máy bay Vietnam Airlines khởi hành 6:00 pm từ Sài Gòn và đến Đà Nẵng sau hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi dùng cơm tại Đà Nẵng rồi đi ngay ra Huế lúc 8 giờ tối. Dừng chân ở Huế lúc nửa đêm, chờ xe đi Quảng Bình 2 tiếng đồng hồ, đoàn đã có một đêm không ngủ ngắm trăng khuya tháng 7 bên bờ sông Hương. Đến Huế nhiều lần, với tôi đây là lần đầu tiên được lang thang trên cầu Trường Tiền lúc nửa đêm, ăn bún bò Huế và chè khuya dưới chân cầu, được bất ngờ chứng kiến một không khí mua bán nhộn nhịp nơi đây nửa đêm về sáng. 

Điểm trường Xuân Nam, Trường Mầm non Hoa Thủy, xã Hoa Thủy, Lệ Thủy

5 giờ sáng đến Quảng Bình, khi mặt trời chưa lên và vầng trăng khuya vẫn còn vương vấn chưa tàn trên bầu trời ửng hồng có nhiều mây bay qua. Ngày đầu tiên của chuyến đi đoàn chúng tôi đã đi thăm và trao tặng sách, dụng cụ học tập ở điểm trường Xuân Nam trường Mầm non Hoa Thủy, xã Hoa Thủy huyện Lệ Thủy và trường Mầm non Hưng Thủy xã Hưng Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông bà, cha mẹ các cháu là nông dân trong huyện, hàng ngày đầu tắt mặt tối làm lụng nuôi gia đình nên các em cần một nơi bán trú như ở đây, được các cô giáo dạy dỗ chăm sóc. Xã đã hỗ trợ cho các em hơn 70% của số tiền học phí khoảng 110 ngàn đồng/tháng. Ở điểm trường Mầm non Hoa Thủy, chúng tôi chú ý có một bé gái, gầy gò và rất nhỏ so với bạn bè đồng trang lứa. Cô giáo cho biết cháu bị ảnh hưởng chất độc da cam đã 3 đời từ thời ông nội. Cháu không phát triển được như các bạn, nhưng cũng phải đến trường để được hòa nhập vào cuộc sống.

Trường Mầm non Hưng Thủy, xã Hưng Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Rời Lệ Thủy, xe đưa chúng tôi đi Trọng Hóa sau khi ghé Phong Nha, huyện Bố Trạch dùng cơm trưa. Đoạn đường từ đây đi bản Hưng mất hơn 3 tiếng đồng hồ, đường đi gian nan vì phải vượt đèo. Xe đi qua đèo Đá Đẽo, biên giới Lào – Việt Nam, trên con đường Trường Sơn năm xưa, nơi đã có không biết bao nhiêu con người đã chết mà nay hồn thiêng vẫn còn vất vưởng đâu đây. Cái tên đèo Đá Đẽo đã hình thành từ việc những người đi đầu vượt tuyến phải đẽo từng tảng đá vôi để xe đi qua cung đèo, giữ thông suốt huyết mạch giao thông.
Đoạn đèo dài 17 km quanh co ngoằn ngoèo hiểm trở, ngày xưa bom đạn cày nát nghe nói cây cỏ còn sống không nổi, nay đã là rừng xanh bạt ngàn, có những con suối dòng thác chảy mãi về cửa sông. Dưới ánh nắng trưa gay gắt, xe chúng tôi băng qua con đường rừng và đã đi nhầm đường phải quay trở lại. Càng lên cao, con đường lên miền núi càng hiểm trở, chỉ thấy rừng trùng trùng điệp điệp, những ngọn núi đá đục đẽo thành bậc thang, và đất sỏi khô cằn. Thỉnh thoảng thấp thoáng vài căn nhà sàn gỗ của người dân tộc Bru-Vân Kiều nằm lọt thỏm giữa núi rừng. Chung quanh hoang vắng, nhưng cũng có một “cây xăng” nhỏ là một túp lều gỗ ở giữa rừng. Một người phụ nữ dân tộc thấy xe dừng hỏi đường, lật đật chạy vào trong lấy ra vài nải chuối rừng bày trên cái sạp trống rỗng.
Khoảng 4 giờ chiều chúng tôi đến bản Hưng. Cái bản làng nhỏ này ngày nay đã có một ngôi trường tiểu học khang trang. Có hơn 70 trẻ em đến tuổi vào mẫu giáo. Trước đây các em học tạm ở nhà cộng đồng của làng. Hội tình nguyện Chung Tay vì Cộng Đồng đã đi tìm hiểu nghiên cứu tình hình từ một năm nay, vận động mạnh thường quân chung tay đóng góp xây dựng tặng cho bản Hưng một ngôi trường mầm non gồm có 4 lớp học, 2 nhà vệ sinh và một sân chơi. Vì không có đất rộng trong bản, xã đã cho cắt một quả đồi để xây trường. Do thời gian nhiều người trong đoàn bận rộn không đến đúng dịp ngôi trường hoàn thành cần phải thêm vài ngày nữa mới xong, vì vậy khi chúng tôi đến, khoảng sân trường vẫn còn đang được tráng xi măng và các lớp học đang được thợ xây dựng tất bật sơn quét bên trong. 

Điểm trường Hưng, Trường Mầm non số 1 xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa.

Đứng trên ngọn đồi cao nhìn xuống thung lũng hun hút thấy dòng sông Khe Rào lững lờ trôi qua những bờ đá sỏi bên dưới và chiếc cầu treo Ông Tú bắc qua con suối rộng 20 m như gọi mời chúng tôi đến thăm. Một thanh niên trong xã nói gì đó với trưởng đoàn của chúng tôi. Tiến Danh hăng hái đề nghị: “Chúng ta sẽ chia ra làm 2 nhóm: 1 nhóm vào bếp phụ các cô giáo lặt rau nấu nướng cho bữa ăn tối nay ở bản. Nhóm còn lại theo em trai này ra suối tắm rửa. Ai muốn ra suối nào?” Danh đánh trúng tim đen của nhóm tình nguyện thành thị, nghe đến tiếng “suối” là gần hết cả đoàn giơ tay lên. Trưởng đoàn nói tiếp: “Em trai này đang cần trồng 10 cây mít giữ đất cho sân trường mé sát dốc đồi, vậy đề nghị các cô chú anh chị trả phí cho em ấy dẫn đường xuống suối”. Mọi người đều hoan hỉ góp tiền để được xuống suối. Cuối cùng số tiền góp đủ để trồng 20 cây mít! Thế là vì lòng yêu thiên nhiên hơn ẩm thực đã lôi kéo 2/3 đoàn đi xuống suối. 

Nhà sàn gỗ của người dân tộc Bru-Vân Kiều bản Hưng.

Và kìa là chiếc cầu treo nối liền 2 bản Hưng và bản Ông Tú, được đặt tên là Cầu Khuyến học & Dân trí.
Có lẽ mọi người còn nhớ loạt bài báo Đại Đoàn Kết, Vnexpress viết vào tháng 9 -2011 về thảm cảnh “Học sinh miền núi bơi đến trường”. Đây là tình trạng của học trò vùng miền núi bản Ông Tú và Ka Oóc, xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình. Hằng ngày để đến trường các em đều phải bơi qua sông Khe Rào nước sâu và chảy xiết vô cùng nguy hiểm đến tính mạng. Cách trung tâm xã Trọng Hóa chừng 7 km, bản Ông Tú có 20 hộ dân với 106 nhân khẩu, trong đó có 14 em đang học tiểu học. Bản Ka Óoc gần đó cũng có hơn chục em học tại trường THCS Trọng Hóa. Hai bản này cùng nằm bên kia sông Khe Rào (thượng nguồn sông Gianh), biệt lập với thế giới bên ngoài. Mỗi sáng các em phải thức dậy thật sớm vượt quãng đường đồi dốc xuống sông Khe Rào. Các em cho cặp sách, quần áo vào vào túi nylon rồi cùng bơi qua sông. Có em không mang theo bao nylon thì bơi một tay, tay còn lại giơ cao cặp sách lên đầu cho khỏi ướt. Vào mùa lũ, các em phải nghỉ học chừng một tháng vì nước sông Khe Rào chảy xiết, không thể bơi qua được. Các em đều sợ bơi qua sông, nhưng vì muốn học “cái chữ” nên phải cố vượt qua những đoạn nước sâu chảy xiết. Vào mùa đông giá buốt, nước sông cạn hơn nhưng cũng phải lội qua những chỗ nước sâu. Với các học sinh nam thì việc bơi qua đoạn sông rộng 20 m chỉ mất vài phút, nhưng với các em bé gái là cả một thử thách lớn. Có một số học sinh nhỏ học mẫu giáo tại bản, giáo viên từ nơi khác phải tìm cách qua sông để đến trường dạy. Xã cấp cho một chiếc thuyền thì vào mùa lũ, thuyền lại bị trôi mất. Kể từ ngày đó học sinh trong bản muốn đi học thì phải biết bơi để qua sông.

Cây cầu treo nối liền bản Hưng và bản Ông Tú

Tháng 10-2011 một cây cầu treo đã được xây dựng nơi đây bắc từ bản Hưng qua bản Ông Tú. Cầu có chiều rộng 2.7 m, dài 105 m với tổng trị giá 9.8 tỷ đồng (nguồn vốn của Chương trình 30a và bạn đọc Báo điện tử Dân trí đóng góp).
Từ con suối nhìn lên chiếc cầu treo chênh vênh, chúng tôi rất xúc động. Đẹp làm sao những tấm lòng vàng! Giữa núi rừng xanh thẳm vây quanh, dòng sông vắt qua như giải lụa mềm bên dưới, chiếc cầu treo vừa hùng vĩ và hiên ngang xiết bao. Bao nhiêu con người, các em nhỏ học sinh không còn phải bơi qua sông để đến trường, ra phố thị mua bán. Có chiếc cầu thông thương, mọi liên lạc dễ dàng hơn rất nhiều, hy vọng đời sống dân bản sẽ khá hơn, các em học sinh kiếm được con chữ đi vào tương lai tươi sáng hơn.

Người phụ nữ dân tộc bản Hưng đi rẫy về.

6 giờ chiều, sau khi làm lễ khánh thành trường Mầm non bản Hưng cùng với các đại diện huyện, xã, các thầy cô giáo, đoàn chúng tôi có một buổi ăn tối, giao lưu với người dân bản. Một bữa ăn đậm chất núi rừng với thịt heo rừng, gà rừng, măng rừng … Ở đây người ta không làm món cơm lam như người Ê Đê ở Daklak. Họ cũng nấu cơm, loại gạo dẻo như xôi. Cơm dọn ra giữa sân trường tiểu học và thực khách cùng ngồi xuống đất. Không có đèn bên những mâm cơm nên chúng tôi phải soi ánh sáng từ điện thoại. Ngó lên bầu trời, đêm nay trăng mọc muộn nhưng đã thấy rất nhiều vì sao nhấp nháy trên bầu trời. Sống ở thành phố đã lâu, đêm nay tôi cảm thấy mình như trở lại tuổi thơ ngày nào đêm thường nhìn lên trời đếm sao. Tôi tìm chùm sao Bắc đẩu và thấy cả sao Hôm. Sao nhiều quá trên nền trời đen thẫm như trong một bức ảnh nào đã chụp được giải Ngân hà. Một lát thì trăng lên cao, từ trên đỉnh núi. Trăng hôm nay đã già nên ánh trăng vàng hơn, nhưng thật là đẹp khi trăng chiếu xuống dòng suối. Những viên đá cuội có màu tím, màu bạc tha hồ lấp lánh. Tiếng suối róc rách. Vài cánh chim đêm vút bay lên cao. Hương hoa rừng thoang thoảng đâu đây…
Tôi chợt nhớ đến những câu thơ của thầy Giới Đức của Huyền Không Sơn thượng:
“Nghe đạo hương rừng theo gió đến,
Đọc thơ, trăng sáng vượt non về”…
Ôi, như một giấc mơ thần tiên!  

Bắt cá tôm trong dòng suối Khe Rào

9 giờ tối, chúng tôi về huyện Minh Hóa, nghỉ trong một khách sạn dưới chân núi. Sáng hôm sau thức dậy rất sớm để tiếp tục di chuyển qua huyện Quảng Trạch thăm mái ấm Hy Vọng Vincent, một cơ sở từ thiện của các nữ tu dòng Mến Thánh giá ở xã Quảng Phương. Đây là ngày thứ ba của cuộc hành trình, và cũng là ngày cuối của đoàn chúng tôi ở đất Quảng.
Quảng Bình là nơi hứng chịu nhiều hàng ngàn tấn bom đạn trong chiến tranh. Đến nay chiến tranh đã qua đi nhưng dư chấn và ảnh hưởng của nó vẫn còn ở lại với niềm đau thương dai dẳng không cùng. Năm 2007, mười nữ tu sĩ của nhà thờ xã Quảng Phương đã xin phép thành lập mái ấm để nuôi dưỡng hơn 70 cháu, trong đó có 12 cháu mồ côi,  61 cháu khuyết tật, bại não, thần kinh, bị ảnh hưởng chất độc da cam, bị cha mẹ bỏ rơi được các xơ đem về cưu mang chăm sóc. Để có tiền trang trải mọi chi phí trong việc nuôi dưỡng các cháu, các xơ đã sắp đặt vừa chăm sóc các cháu vừa làm ruộng, chăn nuôi vịt, gà… 

Mái ấm Hy vọng Vincent ở xã Quảng Phương, huyện Bố Trạch.

Chúng tôi đã từng đến một số trung tâm nuôi dưỡng các cháu khuyết tật nhưng có lẽ nơi đây tập trung nhiều hơn cả. Trong phòng, có 2 xơ đang ẵm vào lòng và đút cho 2 cháu ăn. Một cháu bị thần kinh ốm trơ xương nhỏ như một đứa bé 2 tuổi, hỏi xơ thì được biết cháu đã lên 9. Đôi mắt cháu có hàng lông mi cong vút, nước da trắng, không ai có thể ngờ cháu đã 9 tuổi. Một xơ chỉ cho tôi thấy hai cháu gái chừng 12, 13 tuổi đang đứng ngoài hành lang, có cháu đang bế một em nhỏ. Xơ nói: “Các cháu cũng bị thần kinh, nhìn thì thấy bình thường như vậy đó, nhưng dạy hoài vẫn không biết tự mặc áo quần”… Giữa phòng chờ của trung tâm, một số cháu đang ngồi trên xe lăn, trên khuôn mặt dại khờ nở những nụ cười ngu ngơ. Các xơ ở đây đều có trình độ  đại học và cao đẳng, tốt nghiệp ngành Công tác xã hội ở Đại học Quốc gia Tp HCM hoặc Đại học Y Dược Huế nên việc chăm sóc các cháu được tốt, phòng ốc đều thoáng mát sạch sẽ, vệ sinh.  

Trao quà cho Mái ấm Hy Vọng Vincent

Rời mái ấm Hy Vọng, mỗi người mang một nỗi niềm riêng nhưng cùng tâm trạng là chua xót trước những mảng đời bất hạnh. Khi thấy chúng tôi lên xe, các cháu dù không nhận thức được gì nhưng vẫn khóc đòi theo, có cháu vừa khóc vừa ôm chầm lấy các cô chú trong đoàn không chịu buông ra. Dù sao đi nữa, trong trái tim của mỗi con người được sinh ra đều có chỗ cho tình thương yêu, một thứ vô hình nhưng vô cùng quan trọng và cần thiết để sống trên đời này.
Đã vài lần đến Quảng Bình, với tôi đây là một vùng đất có nhiều màu sắc của cuộc sống nhất. Giữa một không gian mênh mông bao bọc bởi núi rừng, những ngọn núi già và hang động thạch nhũ kỳ ảo như thiên đường đã hình thành từ hàng triệu năm dọc theo dãy Trường Sơn như động Phong Nha, động Thiên Đường, Sơn Đòong và còn nhiều hang động khác chưa được phát hiện, Quảng Bình còn có một hệ thống sông suối khá lớn với 5 dòng sông chính mà nổi tiếng nhất là sông Gianh và Nhật Lệ, 160 hồ tự nhiên và nhân tạo, nhiều loại khoáng sản như vàng, sắt, titan, chì, kẽm... hay khoáng sản phi kim loại như cao lanh, cát thạch anh, đá vôi, đá mable, đá granit... Thêm vào đó là bờ biển dài hơn 116 km, chung quanh có những hòn đảo che chắn diệu kỳ, nhiều thắng cảnh đẹp, cùng với thềm lục địa rộng gấp 2,6 lần diện tích đất liền đã tạo cho Quảng Bình có một ngư trường rộng lớn với trữ lượng khoảng 10 vạn tấn, phong phú những loại quý hiếm như tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang, san hô… Trên suốt đường đi qua nhiều thị trấn, làng xã của Quảng Bình, tôi không ngủ để chỉ ngắm bên đường những rặng núi phủ đầy cây xanh kéo dài như không dứt, những dòng sông, con suối óng ánh trong nắng, biển rất xanh và cát thật trắng, những con thuyền chiếc tàu ngoài khơi xa, những cánh đồng lúa bất tận, đồng quê êm đềm dưới hàng dừa, bóng tre… Thế nhưng, có một điều tưởng chừng như nghịch lý giữa cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ và khoáng sản trời cho là thiên tai và cái nghèo. Màu sắc đó còn trộn lẫn cả những khổ đau cùng hy vọng của con người. 

Bến thuyền động Tiên Sơn, Phong Nha, Quảng Bình.

Cuối cùng, là lời cảm ơn gửi đến Hội tình nguyện Chung Tay Vì Cộng đồng cùng nhóm từ thiện Hiểu & Thương của các cựu nữ sinh trường Gia Long – Sài Gòn đã hợp tác tổ chức chuyến đi công tác từ thiện đầy màu sắc này. Cảm ơn và chúc các mạnh thường quân, các nhà bảo trợ, các anh chị em tuổi từ đôi mươi đến U70, 80 đã cùng tham gia chuyến đi một trái tim khỏe trẻ mãi cùng chân cứng đá mềm để tiếp tục cuộc hành trình khó dứt của chúng ta đến với những mảnh đời bất hạnh.

Tháng 9 – 2017
Nguyễn Diệu Tâm

Thứ Ba, 29 tháng 8, 2017

MIỀN TÂY MÙA NƯỚC NỔI


Nếu bạn hỏi tôi về miền Tây mùa nào trong năm là đẹp nhất,  tôi sẽ trả lời rằng đó là "mùa nước nổi". Và có lẽ miền Tây sẽ càng thu hút bạn hơn nếu bạn biết rằng không chỉ có mùa nước nổi mà còn kéo theo mùa vịt chạy đồng, hay mùa len trâu...
Tôi đã chọn chuyến đi vào mùa này, dù biết trời có thể mưa bất cứ lúc nào, chỉ cần thủ sẵn mũ, dù và áo mưa. Trên chặng đường dài suốt 4 ngày từ Saigon về 3 tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, đi qua và dừng chân ở các tỉnh thành như Mỹ Tho, Long Xuyên, Châu Đốc, An Giang, Hà Tiên, Kiên Lương, Rạch Giá, Cần Thơ ... đâu đâu cũng thấy sông nước mênh mông và những cánh đồng lúa bạt ngàn xanh ngát. Thoạt nhìn thì có vẻ như từ tỉnh này sang tỉnh khác na ná giống nhau, nhưng chỉ ngắm quang cảnh trên đường, bạn cũng sẽ thấy "đặc sản" không chỉ trong ẩm thực, hàng quà, cây trái bày bán trên đường mà còn biểu hiện trong từng nơi đi qua: rập rờn dài hàng cây số những đầm sen đang mùa hoa sen nở là Đồng Tháp, trên những cánh đồng bất tận xào xạc lá cây thốt nốt hay trong những cánh rừng tràm tái sinh hoa nở trắng với từng đàn chim cò, vạc bay rợp trời là An Giang, núi non hình thù ngoạn mục bao quanh biển là Hà Tiên... 
 
Rừng tràm Trà Sư, An Giang mùa nước nổi. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, mùa nước nổi thường bắt đầu từ tháng 7 âm lịch đến tháng 10 âm lịch (khoảng tháng 8 dến tháng 11 dương lịch) hàng năm. Đây là mùa lũ sông Cửu Long, đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam, vùng hạ lưu sông Mekong, Biển Hồ và Tonle Sap ở Campuchia. Hiện tượng này mặc dù là hiện tượng lũ lụt, nhưng lại không phải là thiên tai đối với toàn bộ dân cư vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngược lại, mùa nước nổi là một mùa thay đổi phương thức canh tác nông nghiệp, chuyển sang khai thác nguồn lợi thủy sản dồi dào nhờ hiện tượng ngập lụt mê mông trên toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long đem lại. Mùa nước nổi tạo điều kiện cho đất đai cach tác nông nghiệp vùng hạ lưu sông Mekong, rửa trôi và làm ngập chìm các nguồn sâu bệnh cho cây trồng nông nghiệp, cung cấp một lượng phù sa màu mỡ cho thổ nhưỡng trong toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Đường vào làng Chăm Châu Phong, An Giang - Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Mùa nước nổi về cũng là lúc mùa bông điên điển nở. Trên đường đi đến làng nuôi cá bè ba sa Châu Đốc, làng Chăm Châu Giang, trên sông nước mênh mông có rất nhiều cây bông điên điển mọc tràn bờ, hoa vàng tươi rất đẹp. Món rau hoang dã bình dị này rất được người dân miền Tây ưa thích, làm dưa chua, nấu canh, trộn gỏi v.v...
Khi mùa nước về, là lúc những cánh đồng lúa bạt ngàn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bước vào vụ thu hoạch lúa, cũng là lúc hàng trăm đàn vịt đồng của nông dân lội tràn xuống ruộng.

Mùa vịt chạy đồng - Ảnh: Internet

Mùa nước nổi, còn là lúc những người làm nghề "len trâu", đưa trâu đi tìm cỏ để sống qua mùa lũ. Có người phải "len" cùng lúc hàng trăm con trâu mà không làm mất một con nào.
Trong "Mùa Len Trâu", một tác phẩm trong tập truyện Hương Rừng Cà Mau, nhà văn Sơn Nam giải thích như sau:
"Len" trong tiếng Khmer có nghĩa là đi tự do, "len trâu" có nghĩa là cho trâu đi tự do. Ở đây nước lụt, nước lụt từ 1m đến 4m. Người ta ở nơi lụt, người ta không có chỗ ở là phải, và trâu cũng không có chỗ ở. Cho nên nó phải đi đến những vùng đất cao để có cỏ cho nó ăn. Ở nhà tối nó ngủ không được, ngủ với nước sao mà ngủ được, và trưa thì làm sao cho nó ăn, cỏ đâu ra mà cho nó ăn. Người nuôi trâu, chủ nhà có trâu, phải đưa trâu đến vùng đất cao. Làm sao người làm ruộng nuôi trâu? Muốn nuôi trâu thì phải lùa trâu đi. Ngày thường trời nắng, nuôi trâu trong chuồng. Đến ngày trời mưa thì phải lùa trâu đi. Vì vậy cho nên phải đem trâu đi chỗ khác. Đưa trâu đến vùng bảy Núi. Nhưng nó xa nhà mình đến 30 – 40 km, xa quá sao mà đưa đi. Vì vậy, mình phải đưa nó đi lòng vòng, ăn hết cỏ chỗ này, nước lên, thì đưa trâu sang chỗ khác. Có khi đến ba bốn tháng mới đưa trâu về. Trâu dẫn đi phải có người giữ. Trâu không dẫn đi thì phải mướn người ta giữ. Người nghèo mướn ai bây giờ? Vậy thì để con cái đi giữ nó. Ngày trước trẻ con đi theo con trâu, áo quần không có, mùng mền không có, gạo cơm thiếu, đó là cả một chuyện khó khăn"... 

Rừng tràm Trà Sư mùa nước nổi. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Mùa nước nổi, mùa vịt chạy đồng, mùa len trâu, đi kèm với mùa sen, mùa bông điên điển nở ... Người miền Tây dường như quên mất khái niệm bốn mùa như lẽ thường là Xuân, Hạ, Thu, Đông, thế nhưng quen sống trên sông nước với con đò, đàn vịt, con trâu ... đó mới là cuộc sống thật sự của họ. Và nói đến miền Tây sẽ còn rất nhiều "đặc sản", trong đó không thể thiếu là cải lương và hò đối đáp. Hình như chàng trai, cô gái miền Tây nào cũng biết hò và ca cải lương. Trên con tàu đi chợ nổi Cái Răng, cô gái hướng dẫn viên gốc miền Tây đã hát vài câu cải lương rất "mùi", hò vài bài hò đối nam nữ thật hay. Tôi cũng nghe được một câu chuyện khá thú vị về phong tục rằng trên những nhà bè thường bày rau quả bán, nếu trong gia đình có con gái đến tuổi lấy chồng thì gia đình treo lên một cặp trái vú sữa, còn trai kiếm vợ thì treo củ cải trắng, đàn ông góa vợ muốn kiếm vợ hai thì treo ... củ cải muối.
Chợ nổi Cái Răng, Cần thơ. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
  
Đến đây, lanh lảnh đâu đó có tiếng hò cất lên từ ghe bên cạnh:
“Hò ơ… Một đàn cò trắng bay chung
Bên nam bên nữ ta đồng cất lên
Cất lên một tiếng linh đình
Cho loan sánh phụng, ờ…
Hò ơ… Cho loan sánh phụng, cho mình sánh ta, ơ…
Hò ơ… Cất lên một tiếng la đà.
Đàn ông hát trước đàn bà hát sau, ơ…”

Tháng 8- 2017
Dieu Tam Nguyen


(*) "Mùa Len Trâu" cũng là tên bộ phim đầu tay của đạo diễn Việt kiều Nguyễn Võ Nghiêm Minh được khởi quay tháng 9 năm 2003. Chuyện phim dựa trên tác phẩm Mùa len trâu trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, kể về cuộc sống của những người nông dân miền Nam đầu thế kỷ 20.
Bộ phim có kinh phí khoảng hơn 1 triệu USD, với sự tham gia của ba hãng: Hãng phim Giải Phóng Việt Nam, 3B Productions Pháp và Novak Prod Bỉ. Bộ phim được trình chiếu ở Pháp với tên Gardien de buffles và ở Mỹ với tên Buffalo boy.

Ảnh: netdepvietwiki.

Thứ Ba, 8 tháng 8, 2017

Chuyện Kể Muộn - Kangaroo Valley

Câu chuyện kể muộn...
Giáng sinh 2014.
Trong một quán ăn đồng quê ở thung lũng Kangaroo, tiểu bang New South Wales nước Úc có chàng ca sĩ đàn guitar và hát Hallelujah thật hay. Mùi thơm của bánh nướng lan tỏa trong gió. Thực khách ngồi rải rác bên những chiếc bàn gỗ mộc thô uống bia và ăn trưa. Đang trong mùa Giáng sinh, bầu không khí yên lặng và thánh thiện, dễ thương lạ thường. Xa xa là cánh đồng cỏ non xanh ngắt rung rinh những bụi hoa dại màu tim tím. Có những nông trại gần quanh đây. Đàn bò sữa có đến hàng trăm con đang nhẩn nha ăn cỏ hay nằm nghỉ ngơi dưới bóng những cây khuynh diệp. 
 
 
 
8 giờ sáng hôm ấy, có một cú điện thoại không báo trước của Tr., một người bạn đồng nghiệp cũ ở VN. "Chị chuẩn bị đi, hôm nay mình sẽ lên rừng và xuống biển cả ngày". Từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, ra khỏi Sydney chừng 2 tiếng đồng hồ, xe dừng ở một look-out bên đường nhìn toàn cảnh thành phố trong thung lũng chạy dọc theo một dòng sông có tên Kangaroo river. Khi cốp xe mở, đã có sẵn một mâm bánh nướng thơm phức và bình trà nóng cho buổi sáng giữa núi rừng bao la.
Cảm ơn người bạn Úc (không phải là FB friend) đã âm thầm vào Face Book xem qua những hình ảnh tôi post, biết ngay sở thích của tôi nên tình nguyện đưa đi đây đó thăm cảnh đồng quê, núi rừng và biển ở vùng cao nguyên phía Nam NSW. Ông ấy rất ít nói, chỉ lặng lẽ lái xe và tự động dừng lại ở những địa điểm đẹp cho khách phương xa nhìn ngắm thưởng thức mà thôi. Khi vào rừng, ông mới bắt đầu nói về những loại cây đặc trưng của Úc, những loài chim rừng và nguồn gốc của nhóm thổ dân đã định cư ở vùng này từ những năm tháng xa xưa.Ông cũng để ý tôi chụp hình nhiều và chụp cả những bảng thông tin trên đường. Ông bảo "đó là một cách du lịch thông minh".
Có những cảm xúc đến nhanh và có khi đến khá chậm. Nhiều chuyện trên những chuyến đi của tôi đôi khi phải mất một thời gian, vài tháng, thậm chí vài năm tôi mới ngồi nhớ lại và viết ra được, thí dụ câu chuyện hôm nay.
 
 
Kangaroo Valley là một thung lũng dọc theo sông Kangaroo ở vùng Illawarra của New South Wales, Australia, nằm ở phía tây bờ biển thành phố Shoalhaven. Đó cũng là tên của một thị trấn nhỏ trong khu vực, trước đây gọi là Osborne, với dân số 844 người trong tổng điều tra năm 2011.
Kangaroo Valley là một thung lũng rộng có dốc thoai thoải bao quanh là các dãy núi cao của vùng Southern Highlands NSW, cách chừng hai giờ lái xe về phía tây nam Sydney và khoảng hai giờ về phía bắc thủ đô Canberra. Phía bên kia thung lũng là đèo Flying Fox và cách một vài cây số về phía bắc là thác Fitzroy Falls.
Những cư dân đầu tiên của Kangaroo Valley là thổ dân Úc Wodi-Wodi, được cho là đã chiếm vùng đất này khoảng 20.000 năm trước khi người châu Âu đến định cư tại Úc vào năm 1788. Một điều tra dân số năm 1826 cho thấy có 79 người thổ dân sống ở thung lũng trong năm khu lều riêng biệt. Vào tháng tư năm 1812, khi nhà thám hiểm George Evans trên con đường đi về hướng Bắc để thăm dò Vịnh Jervis Bay đã đi qua thung lũng. Evans đã cho rằng thung lũng này có một quang cảnh thiên nhiên tuyệt vời mà "không một họa sĩ nào có thể vẽ đẹp hơn thế".
 

Vào năm 1817 khi Charles Throsby, một nhà thám hiểm và thuyền trưởng Richard Brooks, cùng một người nuôi gia súc, đã bắt đầu khai thác cho việc định cư. Việc chặt hạ và xuất khẩu cây tuyết tùng nhanh chóng trở thành ngành công nghiệp chính ở Kangaroo Valley. Vào giữa thập niên 1840, một số nông dân chăn nuôi bò sữa chọn nơi đây để sinh sống, chuyên sản xuất các sản phẩm từ sữa như bơ. Những sản phẩm khác như sữa không thể xuất khẩu vì cuộc hành trình đem ra khỏi Kangaroo Valley đi đến những vùng lân cận rất gian khổ.
Vào những năm 1870, nhiều hoạt động đã bắt đầu tập trung tại các khu vực mà ngày nay là ngôi làng trong khi các trung tâm khác ở Kangaroo Valley như Trendally, các ngành công nghiệp sữa trong khu vực đã suy sụp. Giáo Hội của Chúa Chiên Lành (the Church of the Good Shepherd, xây dựng năm 1870-1872) và nhà xứ (được xây dựng vào năm 1879 bởi John Tanner) Cả hai đều được thiết kế bởi John Horbury Hunt, và được liệt kê vào Di sản quốc gia.
 
 

Thung lũng đã thay đổi rất ít trong 130 năm qua, vẫn còn lại Hampden Bridge, cây cầu treo lâu đời nhất tại Úc, hoàn thành vào năm 1898, và ngôi trường cổ Barrengarry như là một minh chứng cho quá khứ khi Kangaroo Valley đã có một thời hưng thịnh với ngành công nghiệp sữa. Nông nghiệp vẫn còn tồn tại, mặc dù ngành công nghiệp khác như du lịch và vui chơi giải trí ngoài trời kể từ khi xuất hiện đã trở thành nguồn thu nhập chính.
Nhiều sự kiện được tổ chức hàng năm trong thành phố bao gồm các hội chợ nông nghiệp và gia súc, lễ hội dân gian như Kangaroo Valley Agricultural và Horticultural Show, Kangaroo Valley Folk Festival, Kangaroo Valley Village Markets...
 
 
 
Đến thung lũng Kangaroo ngày nay, bạn sẽ được nhìn thấy một cảnh quan núi rừng nhiệt đới tươi tốt. Băng qua những cánh đồng xanh rờn cỏ và hoa dại là những đàn bò sữa bên những dòng suối mơ màng. Trong bầu không khí trong lành bình yên của thung lũng, hãy ghé vào những quán rượu đồng quê và những quán bánh địa phương có mùi vị được cho là ngon nhất nước Úc. 
 
Hình ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
Viết theo nguồn Wikipedia.



Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

VỀ QUÊ



Tôi không được sinh ra ở quê cha, cũng không phải ở quê mẹ, mà ở một thành phố miền duyên hải Nam Trung bộ, rồi từ những năm còn rất nhỏ đã theo gia đình đi nhiều nơi ngược ra miền Trung. Có lẽ cũng quen, khi lớn lên tôi là người thích đi đây đó, và có cơ duyên đi khá nhiều, thế nhưng một trong những giấc mơ của tôi là “về quê”. Một giấc mơ tưởng chừng thật đơn giản nhưng mãi đến hôm nay khi đã vào tuổi về hưu tôi mới thực hiện được. Ngày ấy, cha rời làng quê đi học xa nhà, rồi có gia đình, lập nghiệp ở phương Nam. Chị em chúng tôi lớn lên trong những năm chiến tranh, cha không muốn cho về quê sợ nguy hiểm. Không chỉ quê cha mà quê mẹ cũng vậy. Năm lớp 6 tôi mới được theo bà ngoại về làng, chỉ một lần thôi mà nhớ mãi đến sau này. Ông anh con bác ở miền Bắc có lần hẹn: “Sẽ có ngày anh em mình về quê nội. Các anh chị từ ngoài Bắc vào, các em ở trong Nam ra”. Và tôi chờ, chờ mãi … Hóa ra không dễ có dịp đi cùng nhau.

Núi Ấn sông Trà, Quảng Ngãi. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Đầu năm nay, trong chuyến đi Ban Mê Thuột, các cô em con ông chú lại hẹn nhau về quê nội. Tôi muốn lắm nên nhận lời quyết định mua vé máy bay và đặt khách sạn trước để không phải đổi ý. Không ai đi thì mình sẽ đi, không chờ nữa. Tôi book trước vé máy bay. Hiện nay để đến Quảng Ngãi nếu đi máy bay thì chỉ có Vietjet Air hay Jetstar đến sân bay Chu Lai, tỉnh Quảng Nam rồi từ Chu Lai về trung tâm thành phố Quảng Ngãi hơn 40 km. Muốn đi Vietnam Airlines thì đến sân bay Đà Nẵng rồi từ đây về Quảng Ngãi thêm 130 km. Tôi chọn Vietjet Air cho gần Quảng Ngãi hơn. Về phần khách sạn, vì là lần đầu nên tôi chưa hình dung ra vị trí giữa thành phố, sân bay và quê nội. Chị họ cho biết nhà chị cách trung tâm 30 km và quê nội xa hơn 5 km nữa. Có vẻ như Quảng Ngãi không có nhiều khách sạn để chọn lựa như Đà Nẵng. Cuối cùng tôi dừng lại dòng chữ: “Vị trí: bên sông Trà Khúc, cách trung tâm 2 km”. Sau này khi đến nơi tôi mới thấy khách sạn không chỉ nằm ngay bên bờ sông Trà Khúc mà còn nhìn thấy dãy núi Thiên Ấn nổi tiếng mà ông quan Tuần vũ, thi sĩ Nguyễn Cư Trinh thời Hậu Lê, Mạc, Trịnh Nguyễn đã ca tụng “Thiên Ấn Niêm hà” trong “Quảng Ngãi thập nhị cảnh”.

Thuyền câu trên sông Trà Khúc. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Đến ngày đi, chị em tôi ra phi trường lúc 5 giờ sáng để đi chuyến bay khởi hành lúc 7:25 am. Chỉ hơn 1 giờ 15 phút là đến nơi. Tôi đang thiu thiu ngủ thì nghe thông báo từ loa phóng thanh máy bay chuẩn bị hạ cánh. Có tiếng một bé gái kêu lên: “Trời ơi, sao Quảng Ngãi toàn nước không vậy mẹ ơi! Làm sao mà sống bây giờ?” Mọi người bật cười. Tôi nhìn qua cửa sổ máy bay thì ... cũng suýt bật lên tiếng kêu “Trời ơi”! Nhưng là ... Đẹp quá! Tôi muốn nín thở khi nhìn ra ngoài. Tôi đang bay trên bờ biển xanh có bờ cát trắng rất dài. Rồi tôi bay qua những dòng sông uốn khúc, những cánh rừng tiếp nối dòng sông, con suối, ao hồ, đồng xanh ngọt ngào, những ngôi nhà nhỏ ... Để hạ cánh, máy bay lượn khá lâu cũng hơn 15 phút, và tôi mê mẩn nhìn xuống thiên đàng hạ giới dưới kia. Dường như chưa bao giờ từ trên máy bay nhìn xuống tôi thấy được một khung cảnh thần tiên xinh đẹp đến thế. Thật quá sức ngoạn mục!
Trong tâm trạng một người lần đầu tiên về quê, tôi vừa hồi hộp và háo hức muốn biết muốn thấy thật nhiều về quê cha. Ngày còn nhỏ tôi từng thắc mắc không biết dòng họ bắt nguồn từ đâu. Trong cuốn Phả hệ họ Nguyễn Tấn mà lúc còn sống cha tôi đã cùng một ông chú họ bỏ công soạn thảo gia phả, có đoạn nằm trong phần mở đầu:
“Đức Thủy tổ Nguyễn Tấn chúng ta đã rời Thăng Long thành thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672) cùng 5 anh em một trai, bốn gái, lương khô áo vải lên đường, vượt hơn ngàn cây số tìm về phương Nam xây nôi nòi giống “Căn đề, Bắc địa, tích bổn Long Thành, tấc lộ nhi nam, quan san viễn cách”. Đoàn người vượt suối băng ngàn, dừng biết bao nơi, nghỉ biết bao chỗ, cuối cùng: “Bốc cư thử địa, thác thổ khôi cương thủ soán Châu Phong chi mỹ hiệu”, xác định đất Châu xứ Quảng, làng Châu Tử, tỉnh Quảng Ngãi là nơi định cư lâu dài để xây dựng quê hương và dòng họ. Đức Thủy tổ của chúng ta đã mở trang sử dòng họ tại đây, bằng con đường khai hóa nông nghiệp, trên nền tảng văn hóa Đông Phương, lập phả hệ hơn 12 đời họ Nguyễn Tấn phương Nam, kế tục hơn 20 đời đất Bắc”.
Vậy là đã rõ ngọn nguồn.

Một góc xứ Quảng nhìn từ máy bay. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Sau khi loa phóng thanh của máy bay thông báo máy bay chuẩn bị hạ cánh, có tiếng hát vang lên tha thiết, bài hát “Bonjour Vietnam” mà nhạc sĩ, ca sĩ Marc Lavoine người Pháp đã viết cho Phạm Quỳnh Anh, một ca sĩ người Bỉ gốc Việt. Bài hát từng trở thành một hiện tượng 10 năm trước đây ở Việt Nam, giờ đây đối với tôi, trong hoàn cảnh này thật thích hợp: 
“Tell me this name, strange and difficult to pronounce
That I have carried since my birth 
Tell me the old empire and the feature of my slanted eyes 
Describing me better than what you dare not say 
I only know you from the war images 
A Coppola movie, (and) the angry helicopters 
Someday, I will go there, someday to say hello to your soul 
Someday, I will go there, to say hello to you, Vietnam...”
***
Hãy kể tôi nghe về cái tên xa lạ và khó gọi mà tôi đã mang tự thuở chào đời 
Hãy kể tôi nghe về vương triều cũ và đôi mắt xếch của tôi 
Ai nói rõ hơn tôi về những gì người không dám thốt 
Tôi chỉ biết về người qua những hình ảnh của chiến tranh, 
Một cuốn phim của Coppola, (và) những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ...
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn người 
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam (*)
Tiếng hát mênh mang và cảm động trong lúc chiếc máy bay vẫn còn lượn trên bầu trời và bên dưới là những “căn nhà, con đường”, là “những phiên chợ nổi trên sông, là “những chiếc thuyền tam bản bằng gỗ”, “những ngôi chùa, tượng Phật bằng đá” và “những người phụ nữ đang cong lưng trên đồng lúa”... y hệt như trong lời hát thiết tha của “Hello Vietnam”. 


Người phụ nữ đang cong lưng trên đồng lúa. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

Có tiếng hát theo khe khẽ của một cô gái trẻ. Trong khoang máy bay mọi người yên lặng. Tôi bỗng cảm thấy hãng máy bay Vietjet Air đã chọn đúng bài hát và marketing giỏi cho chuyến bay của họ qua bài “Hello Vietnam”. Với một du khách lần đầu đến Việt Nam, có lẽ người ấy sẽ cảm động khi thấy trên màn hình những clip quảng cáo cho du lịch Việt Nam với những hình ảnh rất đẹp lồng trong tiếng hát. Còn với người đã lâu mới trở về thăm quê hương, chắc họ cũng sẽ bật khóc ... như tôi giờ đây.
Chị họ tôi và cô con gái dễ thương của chị ra tận sân bay đón chúng tôi đưa về quê ngay lúc chúng tôi vừa ra khỏi cửa. Cổng làng hiện ra trước mắt, con đường đất đỏ ngoằn ngoèo, dòng sông, cánh đồng bát ngát, lũy tre, bụi chuối ... Quang cảnh sao mà gần gũi thân yêu, rất quen thuộc như tôi đã từng biết vậy. Ngôi nhà thờ ông nội nằm ngay đầu làng, ngay cổng có cây xoài rất to, một cái giếng như trong giấc mơ mẹ tôi từng kể, một vườn cây, rau và hoa lan. Tôi chạy ngay lên phòng thờ nơi vẫn còn giữ kiểu nhà thờ ba gian cột gỗ của ngày xưa thắp nhang cho ông bà, có cả các bác, cha mẹ tôi. Chúng tôi gặp các anh chị em họ, chị dâu anh rể, các cháu về tụ tập đông đủ thật vui vẻ đầm ấm. Rồi ríu rít như những đứa trẻ, chúng tôi ra mộ thăm ông. Ông nằm trong phần đất của gia đình, trong khu vườn khá rậm rạp. Chắc ông vui lắm khi thấy những đứa cháu gái từ xa về quê thăm ông. 

Quê tôi.

Trong vườn quê, có tiếng con chim nào hót trên cao. Giữa sân, đàn gà con tíu tít bên mẹ chúng. Gió thổi qua những ngọn tre. Làng quê yên tĩnh, lắng đọng vô cùng. Thật ấm áp và hạnh phúc khi tìm lại được gia đình dòng họ của mình.

Tháng 7-2017
Nguyễn Diệu Tâm

(*) Thương chào Việt Nam.
Hãy kể tôi nghe về cái tên xa lạ và khó gọi mà tôi đã mang tự thuở chào đời
Hãy kể tôi nghe về vương triều cũ và đôi mắt xếch của tôi 
Ai nói rõ hơn tôi về những gì người không dám thốt 
Tôi chỉ biết về người qua những hình ảnh của chiến tranh, 
Một cuốn phim của Coppola (*), [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ...
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn người 
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam
Hãy kể tôi nghe về màu da, mái tóc và đôi bàn chân đã cưu mang tôi tự thuở chào đời.
Hãy kể tôi nghe về căn nhà, con đường, hãy kể tôi nghe những điều chưa biết, 
Về những phiên chợ nổi trên sông và những con thuyền tam bản bằng gỗ. 
Tôi chỉ biết quê hương qua những hình ảnh của chiến tranh,
Một cuốn phim của Coppola, [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ...
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi 
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam
Chào hỏi giùm những người cha của tôi, những ngôi chùa và những tượng Phật bằng đá, 
Chào hỏi giùm những bà mẹ của tôi, những phụ nữ đang cong lưng trên ruộng lúa, 
Trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh, 
tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha...
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi 
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam.
(Bản dịch của anh Đào Hùng - Pháp - trên diễn đàn của Silicon Band)