Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Đà Lạt, Những Nỗi Nhớ Đã Xa



Ba năm rồi mới trở lại Đà Lạt. Dường như lần nào tôi cũng có những cảm xúc tương tự, là Đà Lạt vẫn thơ mộng, nhẹ nhàng và bình yên khó tả dù đã có rất nhiều đổi thay. Từ sân bay Liên Khương về thành phố, con đường ngày nay rộng rãi và đẹp với những luống hoa hồng trắng, hồng, đỏ và vàng được trồng dọc theo con lươn giữa đường và quanh những bồn hoa giữa vòng xoay đi về phía chợ. Vẫn những rừng thông xanh, đồi núi chập chùng và thung lũng phía xa. Vẫn là hồ Xuân Hương êm ả tuy tôi không thể nhận ra con đường đi qua Palace ngày nào nơi có ngôi nhà cũ của dì nằm dưới con dốc. Bây giờ là nơi đã mọc lên một trung tâm thương mại đồ sộ, có sân banh lớn, có quán cà phê, cụm rạp chiếu phim 3D hiện đại nằm trong những kiến trúc theo hình trái artichaud và dome hình mái vòm khá khổng lồ thô kệch. Đã biến mất rồi những ngôi biệt thự xây theo kiểu Pháp nằm trên con dốc có nhiều thông xanh thả xuống những lùm hoa penseé, violette xinh xắn ngày nào.

Hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt. Photo: Nguyễn Diệu Tâm
 
Nhớ về Đà Lạt, trong tôi nỗi nhớ sâu đậm nhất vẫn là hình ảnh của những ngày mùa hè thời trung học. Chung quanh là màu xanh của rừng núi, của đồi thông, màu sắc vàng xanh tím đỏ của hoa cúc, hoa đào, mimosa, hoa hồng... Phố Hoà Bình, chợ Đà Lạt, hồ Xuân Hương quá đỗi thân quen. Từ tiệm sách Xuân Thu mà tôi hay vào, quán phở Bằng, cà phê Tùng, tiệm ăn Nam Sơn v.v... đến những gánh hàng rong trên phố: gánh đậu hủ, sữa đậu nành nóng, hàng bắp nướng thơm nức mũi khi đêm về trong cơn mưa lất phất và gió thổi se se lạnh. Nhớ cả căn nhà nhỏ ở Trại Hầm nơi các dì hay làm bánh xèo cho chị em tôi ăn, phía sau có một vườn mận và đào lông trải dài xuống thung lũng.
Bây giờ các người dì của tôi đều đã qua đời, mỗi lần về Đà Lạt tôi không còn nơi đến trú ngụ ấm áp được dì chăm sóc hàng tháng trời như trong những mùa hè năm xưa mà thay vào đó là đến các khách sạn lạnh lẽo. Bây giờ đường phố đổi thay, nhà cửa xây dựng ồ ạt, hàng quán mọc lên như nấm để phục vụ cho lượng khách du lịch mỗi ngày một tăng. Sự thay đổi khá nhanh gần đây khiến nhiều người chỉ mới ba năm chưa trở lại như tôi có phần bỡ ngỡ. Tuy nhiên, từ Saigon nắng nóng đến đây để hít thở khí trời của rừng núi trong veo, của hương hoa các loại, của một thời tiết ấm áp ban ngày, mát lạnh về đêm cũng làm cho tôi cảm thấy dễ chịu rất nhiều.

Nhà thờ giáo xứ Tân Bùi, Bảo Lộc. Photo: Nguyễn Diệu Tâm
 
Lần này đến Đà Lạt dự đám cưới của một người chắt ngoại của dì, tôi thấy vui vì gặp lại nhiều bà con, người quen cũ. Chúng tôi đi Bảo Lộc 01 ngày với đoàn nhà trai và hôm sau thì rước dâu về Đà Lạt. Hôn lễ cử hành tại một nhà thờ giáo xứ ở Bảo Lộc. Sau lễ ở nhà thờ, đoàn nhà trai về nhà gái dự tiệc. Trời đã mưa rất lớn suốt buổi trưa và trên đường về.
Ngày Chủ nhật, sau khi đón đâu về, nhà trai đã cử hành lễ tại nhà dưới sự chủ hôn của một cha xứ còn trẻ. Sau đó cả hai họ và khách mời cùng đến nhà hàng Garden Palace dự tiệc. Vì cả hai họ đều là đạo gốc nên trong tiệc cưới có nhiều cha và soeurs. Chúng tôi ngồi cùng bàn với các cha dòng Don Bosco. Lần đầu tiên trong đời tôi được dự hôn lễ trong nhà thờ Công giáo, được tiếp xúc với nhiều cha xứ của giáo xứ Bảo Lộc, Đồng Nai, Đà Lạt, được nghe giảng và đọc kinh. Trong đám cưới, ngoài cha xứ chủ hôn còn có một cha xứ ở Đà Lạt là bà con bên chồng của chị họ tôi, cùng một số các thành viên trong ca đoàn, các cháu tôi, mọi người từ ông nội đến bà cố của cháu đã trên 80 tuổi, đều tham gia ca hát, ảo thuật, biểu diễn trên sân khấu tưng bừng và vui vẻ. Có lẽ chưa bao giờ tôi được tham dự một đám cưới vui và dễ thương đến thế.

Trên đồi thông. Photo: Nguyễn Diệu Tâm
  Mưa suốt buổi chiều. Khi xe đi ngang qua La Sapinette tôi lại nhớ nơi ba năm trước đã đến. Nhớ trang trại cà phê chồn ở Trại Hầm. Nhớ những vòng xe quanh khu Hòa Bình. Đêm mưa cao nguyên lần này cũng vậy, không biết đi đâu, tôi lại đến phòng trà Diễm Xưa nghe nhạc Trịnh. Ngày ấy ở chỗ ngồi này, có N. Cũng đêm mưa như hôm nay. Ly chanh muối nóng. Cốc cà phê đen. Cành hoa hồng khô dưới ngọn nến. Cũng những cây nhang trước giờ hát người ca sĩ đã kính cẩn thắp trên bàn thờ có di ảnh cố nhạc sĩ. Và hình như N cũng đang quanh quẩn đâu đây.

Bên cốc cà phê chồn Đà Lạt. Photo: Nguyễn Diệu Tâm

Bước ra khỏi quán, giọng cô ca sĩ buồn buồn vọng theo sau lưng tôi:
"Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt. Thành phố này xin trả lại cho anh. Ngàn thông buồn chiều nay im tiếng. Ngôi giáo đường lặng đứng suy tư. Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt..." (*)
Gió về khuya thổi mạnh. Trong bóng tối núi rừng âm u bao quanh, những giọt mưa rơi trên mái lá nghe thật rõ. Tôi dừng lại cài nút áo khoác và sửa chiếc khăn quàng cổ. Chợt thấy lạnh buốt...
Tháng 6. 2017
Dieu Tam Nguyen


(*) "Tình yêu như bóng mây", hay nhất qua tiếng hát Khánh Hà:
http://m.mp3.zing.vn/…/Tinh-Yeu-Nhu-Bong-May-…/IWZACZD8.html




Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

NƠI CHỈ CÁCH QUÊ HƯƠNG MỘT DÒNG SÔNG (III)



Ngày thứ ba ở Campuchia, buổi sáng thức dậy khi mặt trời chưa mọc, chúng tôi lên đường đi tiếp đến điểm phát quà cuối cùng của chuyến đi. Phnompenh vẫn còn chìm trong giấc ngủ say. Trên con đường vắng vẻ, dưới ngọn đèn đường hiu hắt những chiếc xe tuk tuk còn che bạt nằm im lìm, một chiếc xe chở rau củ chuẩn bị ra chợ, vài chiếc xe hơi vụt qua, thi thoảng có bóng người thấp thoáng từ xa đi tới. Chúng tôi ghé một quán ăn mở cửa sớm mua cơm hộp đem theo. Ở đây có bán bánh bao, cơm tấm, hủ tíu … cũng như ở Việt Nam vậy. 

Một góc thành phố Phnompenh đêm về sáng

Cách Phnompenh chừng 60 km, có một ngôi làng rất nghèo bên sông mang tên Bến Ván, nơi có bến nước thuyền bè neo đậu, đến và đi, cùng hàng trăm căn nhà nổi nằm san sát kề nhau ven sông. Sát bờ sông có một ngôi chùa xây theo kiểu nhà sàn mang tên An Hòa tự, do sư Minh Trung, một nhà sư tu học ở Ấn độ về trụ trì đã hơn 10 năm. Vào chính điện lễ Phật, thật bùi ngùi khi chưa bao giờ tôi nhìn thấy một ngôi chùa nghèo đến thế. Nối liền với ngôi chùa bằng cầu ván đi ra phía sau là trường học cho các trẻ em người Việt do sư thành lập cũng đã được 4 năm. Có lẽ do nằm gần bờ sông, để tránh lũ lên ngôi chùa và trường học đều được dựng trên những cột kèo bằng cây cao lêu nghêu, lót ván ọp ẹp. 

Trường học tiếng Việt ở Bến Ván, Campuchia

Nghe kể, ở xóm nghèo này trước đây cũng đã có một nhà sư mở lớp dạy học, nhưng dân làng thấy nhà sư ấy hay uống rượu, họ không cho con cái đến học. Khi sư Trung thuê đất lập chùa, mở trường, cũng phải chịu thử thách một thời gian. Thấy sư là người tu hành chân chính, dần dần dân làng mới dám cho con theo học, càng lúc lớp học càng đông. Tại lớp học này, sư Trung giảng dạy về Phật pháp, còn có một thầy giáo dạy cho các em biết đọc, viết và làm toán đến lớp 4, lớp 5 và có một vài em sắp tới sẽ được lên lớp 6. Do đất thuê nên lớp học chỉ xây tạm bợ nay sắp tới thời hạn trả đất. Có một Phật tử đã cúng dường một miếng đất phía sau chùa nên sư Trung dự định sẽ xây lại chánh điện và lớp học trên miếng đất đó.

An Hòa Tự, Bến Ván, Campuchia

Trong lúc đoàn tất bật chia hơn 100 phần quà cho các cháu học sinh, một cô gái trong đoàn chạy đến bên tôi và kể: -“Em nghe nói chính quyền Campuchia có thể cấp cho họ giấy tờ, chỉ phải đóng 3.7 triệu đồng VN và được trả trong vòng 7 năm. Nhà nước VN hỗ trợ 250.000 Riel (tương đương 1.38 triệu đồng VN), còn lại người dân đóng mà họ vẫn không có tiền. Cả cái xóm Bến Ván này chỉ có 2 nhà có được giấy tờ chính thức để được sở hữu đất và xây nhà ở.”
Thông tin này làm tôi bất ngờ và bỡ ngỡ. Tuy nhiên, chỉ nghe nói lại như thế thì có thể không chính xác, qua tìm hiểu tôi biết được đa số cư dân ở đây không hiểu rõ luật pháp. Luật Campuchia khá khắt khe, dù đã sinh sống qua nhiều đời ở Campuchia họ vẫn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện của Luật nhập cư và Luật quốc tịch Campuchia. Chính quyền có thể cấp cho người Việt sinh sống lâu năm ở đất nước Campuchia thẻ cư trú tạm thời, phải đóng tiền, thời hạn tối đa 1 năm là 250.000 riel (tương đương 100 USD). Đối với thẻ thường trú, thời hạn 2 năm là 500.000 riel; thẻ thường trú cấp lại: 500.000 riel; lệ phí gia hạn thẻ thường trú: 500.000 riel. Như vậy, để được cấp thẻ ngoại kiều, mỗi người (từ 18 tuổi trở lên)  phải đóng ít nhất 1.000.000 riel, tương đương 250 USD. Đối với hàng ngàn người Việt sống lang thang trên sông hồ, chạy ăn kiếm cơm từng bữa như vậy thì số tiền đó đối với họ và cả gia đình con cái đông đúc là quá lớn  hầu như không hay khó thể thực hiện.


Ba ngày trôi qua, đi nhiều nơi sống khác nhau của người Việt ở Campuchia, với tôi có lẽ xóm nhà nghèo dưới chân cầu Sài Gòn là nơi phức tạp nhất. Cách không xa thủ đô Phnompenh, con số hơn 2.000 người chưa kể mỗi ngày không biết bao nhiêu lượt người đến rồi đi, có người làm ăn cũng khá bằng nghề mở quầy bán vé số, số đề, hoặc buôn bán, nghe nói không có ai đến thu thuế nhưng bỏ túi cho cơ quan chức năng thì cũng nhiều để thoát bị xử phạt. Ở một nơi phức tạp như vậy, có lẽ tệ nạn cũng nhiều. Riêng những làng nghèo ở Pim So, “Cay Đắng”, Bến Ván thì dù nghèo nhưng vẫn có cái gì đó “an toàn” hơn. Dù họ vẫn là những người vô tổ quốc, không quốc tịch, không có quyền công dân, nhưng có lẽ những nơi đã có các nhà sư chân chính như sư Chơn, sư Minh Trung mở ra những lớp học tình thương dạy dỗ cho con em họ giáo pháp, lễ nghĩa, biết chữ, biết viết, thì niềm tin và hy vọng về một ngày mai tốt đẹp vẫn cao hơn và sau này thế hệ con cháu họ có thể đọc được hiểu được nhiều hơn, dần dần có thể thoát ra được cảnh nghèo túng tận cùng đó.    

Trong lớp học Bến Ván.

Rời bến Ván, chúng tôi về lại Phnompenh để kịp tham quan Chùa Wat Phnom trước khi ra xe Khải Nam khởi hành về lại Sài Gòn lúc 3 g chiều. Mọi người đều trầm ngâm suy nghĩ trước những cảnh đời đã chứng kiến 3 ngày qua ở đất nước Chùa Tháp. Những cô gái trẻ tình nguyện viên trên xe vẫn còn xúc động vì được các bé gái ở Bến Ván ôm chầm quyến luyến lúc chia tay. Có bé ngây thơ hỏi: -“Cô ơi, rồi cô có trở lại với con không?” Có lẽ các bé đều nhìn những cô gái đến từ bên kia sông này như những nàng tiên xinh đẹp trong cổ tích đã từ bên kia dòng sông hiện ra. Một cô gái rưng rưng nước mắt kể cho chúng tôi nghe cô đã hỏi các cháu: -“ Có bao giờ các con nghĩ có ngày sẽ thoát ra khỏi nơi đây?” Có cháu gật đầu, có cháu không trả lời. Cô gái nói tiếp: -“Em tin là những cô bé ấy lớn lên sẽ đủ dũng cảm thoát thân ra khỏi cái làng nghèo này!” Một anh tình nguyện viên thở dài: -“Có thể, nhưng thoát đi đâu, thoát như thế nào? Không giấy tờ, không tiền bạc, không biết chữ, làm gì, ở đâu, sống thế nào hay lại sẽ rơi vào những cạm bẫy của cuộc đời? Một điểm nữa, khi đi xin việc làm, có khi vấp phải những định kiến nặng nề, người chủ nghe đến “lý lịch” từng sống ở gầm cầu, Biển Hồ, các làng nghèo v.v… liệu họ có dễ dàng chấp nhận? Chỉ có thể là người ấy may mắn, có cơ hội thoát ra mà thôi.”  

Trường làng ở Bến Ván do sư Minh Trung thành lập.

Có nhiều người trẻ tuổi từng tìm cách thoát ra khỏi xóm nghèo nơi đã mấy đời cha ông họ sinh sống, nhưng họ phải có nghề nghiệp, học vấn, phải có giấy tờ v.v... Có người khá hơn đã về thành phố ở, sau đó họ đưa cả gia đình đi theo. Nhưng không phải ai cũng may mắn được như vậy. Cũng có những người bỏ nhà ra đi, rồi mất tích luôn, cha mẹ chẳng biết con ở phương nào mà tìm. Con gái thì càng khó rời khỏi làng vì lo sợ có biết bao nhiêu cạm bẫy bên ngoài túp lều tranh nơi dù nghèo nhưng vẫn còn có cha mẹ bảo bọc che chở. Khi đã sống tha phương lâu đời, thật không dễ bỏ đi đâu. Người Việt lại quen sống chung với gia đình, trong một mái nhà sống chung với nhau 3, 4 thế hệ là chuyện thường tình.  
Ở những ngôi làng nghèo này, cũng như ở những vùng có người Campuchia gốc Việt sinh sống khác trên đất nước Campuchia, có thể nói trên một nửa dân số đều trong tình trạng sống nghèo khổ cùng cực, thiếu ăn thiếu mặc, không có nước sạch dùng, không có nhà ở hoặc có nhà ở nhưng mang tính tạm bợ, tương lai mịt mù mà nguyên nhân là do nhận thức về cuộc sống, sự nghèo đói, thất học, không có địa vị pháp lý … Có nhiều chương trình, dự án đã vạch ra, có thể một ngày nào đó sẽ có cách giải quyết vấn nạn đau lòng này, đó là vấn đề của chính quyền hai nước, đặc biệt là từ phía chính phủ Campuchia. 

Những phận đời lênh đênh...

Những đoàn từ thiện tự phát như chúng ta chỉ có thể thầm lặng giúp đỡ họ một phần nào, một bữa ăn để khỏi chết đói, vài con chữ để khỏi mù chữ. Có người nói chuyện cứu trợ này chỉ như muối bỏ biển, nhưng bạn ơi, biển không có muối cũng không còn là biển. Các bạn và tôi cùng không mong ước gì hơn, có một ngày những vấn nạn này sẽ được giải quyết ổn thỏa. Rồi một ngày nào đó, những xóm làng nghèo tơi tả tăm tối này sẽ tươi sáng hơn, người lớn có việc làm, có nhà cửa, con trẻ được đến trường, mọi người đều có quyền công dân, có cái ăn cái mặc. Và những dòng sông sẽ trong xanh trở lại, cá Biển Hồ lại sinh sôi nẩy nở…

* Bài viết và hình ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
   Tháng 5. 2017

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

NƠI CHỈ CÁCH QUÊ HƯƠNG MỘT DÒNG SÔNG (II)


Sáng sớm hôm sau khi chúng tôi thức dậy, nhà chùa còn tận tình đãi đoàn món hủ tíu chay và cà phê sữa. Trong lúc chờ đoàn chuẩn bị quà đem đi đến các điểm hôm nay, tôi đi về phía cuối làng ngắm bình minh đang lên trên những cánh đồng. Vắng lặng và yên tĩnh làm sao! Có vẻ như dân làng đã ra đồng hay đi làm thuê từ sớm. Thỉnh thoảng một vài chiếc xe gắn máy chạy ngang. Những chiếc xe bò chở hàng. Ruộng bắp cải mọc đều tăm tắp xanh um. Những đụn rơm trên cánh đồng lúa vừa gặt. Xao xác đâu đó cánh chim vỗ bay lên từ ruộng mía. Và một loài cây ăn quả đi đâu cũng thấy là xoài keo. Ở đâu cũng thấy những vườn xoài, nhà người dân nào cũng có ít nhất vài cây xoài. Mùa xoài trái đang rộ, lủng lẳng chi chít trên cây rất hấp dẫn!
7:00 g sáng xe khởi hành đi Kampong Chhnang. Đoàn mời sư Chơn lên xe đi cùng nhưng sư từ chối, trong suốt chuyến đi từ sáng đến chiều, thầy chỉ ngồi sau một chiếc xe gắn máy cà tàng đi trước dẫn đường, mặc cho nắng gắt gao như lửa đốt giữa trưa hè dội xuống con đường dài hơn trăm cây số. 


Cách chùa không xa lắm có một con sông lớn, nơi chúng tôi phải đi qua phà. Quang cảnh dòng sông thật thơ mộng. Dưới ánh nắng ban mai khi mặt trời vừa ló dạng, bóng thầy in trên nền trời đem đến cho chúng tôi một sự an lạc trong tâm hồn, hình như chẳng ai quan tâm mình đang đi trên một chiếc phà kết bằng tre, ván gỗ mong manh lướt trôi trên dòng sông, trên người không có áo phao bảo vệ. Hình ảnh người du tăng khất sĩ lặng lẽ đi trên con đường gập ghềnh sỏi đá hay nhớp nháp bùn lầy, đầu trần chân đất, đến với những mảnh đời bất hạnh thật đáng kính phục. Nhìn cách thầy đi kinh hành, thọ trai, được nghe thầy giảng pháp trong những lúc đoàn cùng dừng chân nghỉ ngơi, đúng là bậc chân tu hiếm có ngày nay. Với riêng tôi, có lẽ đã lâu lắm rồi tôi mới được nhìn thấy hình ảnh một vị chân tu mà tự nhiên trong lòng dâng lên một sự kính ngưỡng như được hữu duyên diện kiến một vị Bồ tát.
Qua phà, đoàn lên xe đi vào làng nghèo Pim So. Đêm qua đã có một cơn mưa nên sáng nay con đường thật lầy lội, đến một quãng dưới chân chiếc cầu tre, do chiếc cầu mong manh quá không cho xe qua, khi chúng tôi xuống xe đi bộ qua cầu thì chiếc xe bị sa lầy. Ai cũng lo lắng không biết làm thế nào. Một số đàn ông trong làng chạy ra phụ các anh nam trong đoàn đẩy xe và nhờ tài xế người Kam đã tỏ ra rất quen thuộc đối đầu với những đoạn đường sình lầy như thế này, cuối cùng xe leo lên được mặt đất. Mọi người vỗ tay tán thưởng “tài nghệ” vượt sình đó của bác tài.



Pimso. Đó là một ngôi làng nghèo. Rất nghèo. Hai bên đường là những cánh đồng trồng bắp và một số rau củ, cây khổ qua và ớt. Người dân sống trong những túp nhà “cao cẳng”, che qua quýt vải bạt, phên nứa đơn sơ. Những mái tranh dựng trên giàn cây khẳng khiu cao chừng 3-4 mét, cầu thang lên nhà cũng chỉ là cây và tre nứa lót ngang dọc ọp ẹp. Vậy mà đám trẻ con trong làng hồn nhiên chạy lên chạy xuống và leo trèo nhanh thoăn thoắt như những chú khỉ con. Người dân nói khi trời mưa lũ, nước sông dâng lên đến tận sàn nhà.
Sư Chơn dừng lại ở ngôi nhà sàn đầu làng. Ông leo lên nhà để gặp một người đàn ông mù đang bệnh nặng, tặng ít quà, thuốc men và tiền. Trong đoàn đi theo cũng biếu thêm tiền để ông ta uống thuốc. Người này trước đây từng làm công quả cho chùa, sau bệnh quá nghe nói khó chữa khỏi, sư thường ghé thăm giảng pháp cho ông ta nghe.


Tôi đi về phía trong làng. Đường vắng, có lẽ đàn ông trong xóm đã đi làm. Chỉ thấy đàn bà ở nhà giữ con và trẻ con áo quần tả tơi, có đứa ở truồng chạy long nhong quanh xóm. Vài người đang chất bắp vừa thu hoạch vào bao để chở đi. Một người đàn ông chừng 60 tuổi đang ngồi trên một nhà sàn hỏi tôi: - “Cô ơi, có phải sư đến làng không cô? Tui bệnh quá không ra gặp sư được.” Hỏi thăm thì anh ta cho biết bị thần kinh tọa và tai biến. Bây giờ bệnh hoạn đi lại khó khăn, chỉ ở nhà, vợ đi làm rẫy. Con cái 6 đứa và đứa út cũng đã 20 tuổi. Ngày trước anh cũng là thầy giáo dạy chữ cho lũ trẻ trong làng, hỏi anh đã học ở đâu, anh nói anh tự học và biết chữ Việt, cả chữ Campuchia. Hỏi gia đình anh đến ngôi làng này bao giờ, anh bảo: -“ Lâu lắm rồi, từ đời bà nội tui lận!”

Trường làng Pimso và các cháu bé học trò

Lớp học của sư Thiện Chơn tổ chức nằm gần cuối làng, là một căn nhà mái tôn tương đối khang trang sáng sủa và sạch sẽ. Sư kể lý do sư quyết định lập trường học bởi vì có một nhà sư hứa sẽ đến dạy cho các cháu. Nhưng sau đó khi trường xây xong rồi, thì vị sư ấy đã đi xa. Sư Chơn đành phải đi tìm thầy giáo. Ngôi làng ở nơi chốn xa xôi hoang vu quá nên có một lớp học tiếng Việt đã khó, tìm được thầy giáo là cả một vấn đề, khó như mò kim đáy biển. Cuối cùng sư kiếm ra được 2 người: Một thầy dạy tại làng Pim So. Một cô dạy ở làng “Cay Đắng. Lương thầy giáo 100 đô la Mỹ. Ở làng “Cay Đắng” sư đành chọn một cô giáo chỉ mới học đến lớp 3 nhưng theo sư cũng đã đọc và viết rành, có thể dạy cho học trò đến lớp 2 là hết, lương 50 đô la.
Có gần 50 cháu đang xếp hàng ngay ngắn phía trước để chào đón đoàn. Có cháu nhỏ chừng 3, 4 tuổi, có cháu lớn nhất khoảng 9, 10 tuổi. Các cháu đến học chung một lớp, thầy cứ dạy từng đứa một, giỏi thì cho lên lớp. Hàng tháng mỗi cháu chỉ đóng 10.000 Riel Campuchia (KHR) - tương đương 2.42 đô la Mỹ và khoảng 55.000 đồng VN.

Trong lớp học

Anh Sơn, một tình nguyện viên trong đoàn đã có màn biểu diễn ảo thuật giúp vui cho các em. Khi được hỏi: -“Các con đã bao giờ được xem trò ảo thuật chưa?” Các cháu đồng thanh trả lời: -Dạ chưa!”
Dưới nắng trưa, anh bắt đầu biểu diễn. Các cháu tròn mắt xem và rất thích thú, cười ồ lên khi nhà ảo thuật đã “hô biến” cái hộp rỗng không trở thành đầy kẹo.
Xem ảo thuật xong, các cháu trở về lớp học, cảm ơn đoàn đã đến thăm và tặng quà. Sáng nay các cháu được nhận mỗi cháu một ổ bánh mì, một ly nhựa uống nước, có tập vở, bút chì, mũ, sách, bánh kẹo ... Riêng các cháu gái học sinh giỏi còn được thưởng thêm kẹp tóc, một vòng tay xi mạ vàng rất dễ thương. Ngoài ra tất cả các cháu ở các trường học còn được các cô chú đoàn từ thiện đeo vào cổ mỗi cháu một sợi giây chuyền có hình tượng Phật. Nhìn các cháu cúi xuống mân mê tượng Phật trong tay, thật là thương! Nhờ giáo dục của sư, của thầy, các cháu đều ngoan ngoãn lễ phép.

Đường vào làng "Cay Đắmg"


Khoảng 9:00 am, chúng tôi lại theo sư Chơn đi đến một ngôi làng khác, đường xa hơn rất nhiều. Đến nơi, con đường vào làng quá hẹp không đủ cho xe qua, chúng tôi lội bộ vào. Các cô cậu trẻ trong đoàn thay nhau vác quà cứu trợ vào làng, gồm gạo, mì, sữa, sách vở cho học trò. Ngôi làng này còn nghèo hơn làng Pim So, trông xơ xác lắm, nằm san sát nhau bên bờ một dòng sông. Con sông không lớn lắm, cũng không rõ sông có tên gì, chảy về đâu, chỉ nghe một người nói đây là một nhánh của sông Mekong. Hỏi tên làng cho chính xác nhưng ngay cả người trong làng cũng không rành vì không biết chữ, dựa theo phát âm đoán ra cũng khó đúng. Nhìn bảng hiệu ngoài đường lớn thì ghi toàn chữ Campuchia, không đoán ra nổi đây là đâu. Tôi chỉ nghe ai đó nói đây là làng “Cay Đắng” do người dân trồng ớt và khổ qua là chính. Một người đàn ông chỉ qua bờ sông bên kia bảo đó là Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, quê anh. Tôi đoán có lẽ ngôi làng này thuộc tỉnh Prey Veng. -“Vợ tui người Campuchia. Cách nhau chỉ một con sông, hồi đó bơi qua bơi lại riết rồi quen nhau, thương nhau. Bả không chịu về Việt Nam ở nên tui phải qua đây, sống với nhau luôn.” Người đàn ông vừa kể vừa bùi ngùi nhìn qua bên kia sông.

Bến nước đầu làng "Cay Đắng" và dòng sông biên giới


Đứng bên dòng sông biên giới, tôi nhìn con nước lững lờ trôi giữa trưa nắng mà chạnh nhớ miền Tây Nam bộ. Sao dòng sông thật gần gũi, cũng hàng hàng lớp lớp lục bình từ đâu kéo nhau trôi về, cũng những con thuyền chở chuối, dừa, thanh long … có lẽ từ phía quê nhà đi qua. Ngầm so sánh thì cuộc sống người dân miền Tây có vẻ dễ chịu hơn, dù người dân ở làng quê xa xôi cũng nghèo và thiếu thốn, nhưng họ được sống trong sự chia xẻ chan hòa với cộng đồng, không bị phân biệt đối xử. Rõ ràng đã có nhiều vấn đề nan giải từ lâu đã gây nên hậu quả ngày nay cho cộng đồng người Việt ở Biển Hồ. Đi thì dở mà ở cũng không xong!
Lớp học ở đây học trò ít hơn ở làng Pim So, chỉ khoảng chừng 30 cháu, và có cháu còn rất bé. Bàn ghế trong lớp bằng gỗ tử tế, dù mái và vách cũng lợp tôn nhưng tất cả đều sạch sẽ. Nhìn các cháu bé hớn hở, người dân cung kính khi thấy sư Chơn cùng đoàn từ thiện đến, tôi hiểu họ đã đặt niềm tin vào sư rất nhiều. Trong một nơi sống thiếu thốn nghèo khổ, người dân dù mù chữ cũng mong cho con cái mình được đi học, nhưng để có một trường học mọc lên giữa xóm nghèo này không phải dễ.

Trường làng "Cay Đắng"

Sau khi sinh hoạt cùng các cháu học sinh trong lớp học, chúng tôi cùng đi xuống đất dùng cơm trưa vì các sư và ni trong đoàn chỉ thọ trai một lần từ 11 – 12 giờ trưa hằng ngày. Sáng sớm nay, một sư cô trong đoàn đã thức dậy từ 4 g sáng nấu cơm và bới cơm hộp theo cho cả đoàn. Đói bụng, ăn cơm chay ai cũng thấy ngon, tuy nhiên đã “chay trường” 2 ngày qua, có lẽ trong đoàn cũng có người thèm mặn, nhìn hộp cơm bảo “nhiều quá”! Sư cô năn nỉ: “Ăn cho hết cơm, đừng bỏ, tội!”
Dùng cơm xong, chúng tôi lên đường trở về chùa cho kịp phát quà cho 100 trẻ con hộ nghèo trong xóm gần tịnh xá Ngọc An Lạc ở Kandal lúc 2:00 g chiều. Sinh hoạt hơn một tiếng đồng hồ, đoàn ăn cơm chiều tại chùa rồi rời Kandal đi về Phnompenh.


Đêm thứ hai ở Campuchia, đoàn chúng tôi nghỉ trong một khách sạn nhỏ ở trung tâm Phnompenh. Chủ khách sạn nói tiếng Việt, có lẽ là người Việt gốc Hoa trước đây. Chúng tôi đi thăm Hoàng cung nhưng không vào được vì đã quá 5 g chiều. Hiện nay Hoàng cung chỉ mở cửa cho du khách tham quan vào ngày cuối tuần, thứ bảy và chủ nhật. Trước mặt là một quảng trường rộng, rất đông người địa phương ban đêm đây hóng mát, có những “dịch vụ” cho thuê chiếu ngồi, và nhiều xe đẩy bán cóc, ổi, bánh mì đêm. Không có gì đặc biệt và rất tiếc là rác xả quá nhiều gần như khắp nơi. Đi dạo một vòng phố bằng xe tuk-tuk. Phố phường Phnompenh về đêm khá đẹp. Nhiều khu phố Tây và cửa hàng lộng lẫy sang trọng. Chúng tôi đi ăn hủ tíu Nam Vang và chè lạnh. Ở Phnompenh cũng như các tỉnh chúng tôi đã đi qua, vì nơi nào cũng có người Việt buôn bán, đến nay du khách Việt Nam vẫn có thể xài cả 3 loại tiền: Riel Campuchia, đồng VN và đô la Mỹ.
Đêm ấy có trăng lưỡi liềm, trời trong vắt. Tôi chợt nhớ sắp mồng tám tháng tư rồi. Mùa Phật đản đã đến.

(Còn tiếp)