Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

VỀ LÀNG


Ngày còn nhỏ, có một bài thơ học thuộc lòng mà tôi rất thích:
“ Kỳ nghỉ hè, ta về quê. Nhà ta ở, mé bờ đê. Ở nhà có, mẹ cha ta. Ông và bà, quý ta quá!…”

Trong đầu óc bé bỏng của tôi lúc đó, “quê” là một nơi có những cánh đồng lúa chín vàng, có chú mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu thổi sáo, đàn vịt lội ao, có cánh diều no gió, lũy tre làng... là những gì tôi chỉ biết qua sách vở mà không biết bao giờ mới được nhìn thấy tận mắt. Ngày đó mùa hè được nghỉ đến 3 tháng, nghe đến mùa hè là đứa học trò nào cũng háo hức vì được nghỉ học, được tha hồ đi chơi. Chú bé trong bài thơ có lẽ đang đi học xa nhà nên mới có tâm trạng vui sướng hớn hở như thế, còn tôi đang ở cùng cả cha mẹ lẫn ông bà thì quê ở đâu mà về? Mẹ bảo “Quê của mẹ ở làng Mỹ Á, Vinh Hiền, rồi sẽ có ngày con được về quê”.
Năm tôi thi đậu vào lớp đệ thất trường Đồng Khánh, cha tôi thưởng cho tôi được về quê với bà ngoại. Không thể tả nổi niềm vui của tôi, đêm trước khi đi tôi đã thao thức không ngủ được. Cứ nghĩ, không biết quê mình ra sao, có giống như bài học thuộc lòng đã mô tả, là “nhà ta ở, mé bờ đê” không? Ngày lên đường đã đến, buổi sáng hai bà cháu đi xe ra bến sông, rồi đi đò, qua cầu, nhiều lần như vậy rất gian nan mới về đến làng Mỹ Á, là nơi bà ngoại theo ông về làm dâu, làm vợ, và mẹ tôi đã sinh ra ở đó.
Làng tôi cũng có bờ đê, những cánh đồng cò bay thẳng cánh, có lũy tre xanh, ngôi đình, cây đa, bến nước ... Và hơn thế nữa là đầm phá, là biển. Đầm phá có nhiều tôm cá, thuyền câu. Biển có bãi cát trắng dài hoang sơ rất đẹp. Một ông anh họ dẫn tôi leo lên núi đá nhìn ra biển, ở đó tôi ngồi nhìn quang cảnh thiên nhiên đẹp như tranh và sinh hoạt của dân làng chài không chớp mắt, vì sống ở thành phố tôi chưa được thấy bao giờ.

Biển Vinh Hiền, Thừa Thiên - Huế

Đó là cảnh làng chài đang rộn ràng vào những buổi sớm mai khi ghe đánh cá từ ngoài khơi xa về. Những người đàn bà và cả trẻ con xúm lại gỡ lưới lấy mực cá vào rổ. Người nhóm lửa nướng ngay con cá tươi, mùi khói và mùi thơm của cá nướng thoảng tới từ xa. Cái xóm nhỏ rộn ràng tiếng hú gọi dân làng ra lấy cá, tiếng nói cười lẫn trong tiếng sóng biển vỗ. Có lẽ vì sống gần biển phải nói át tiếng sóng vỗ nên những người bà con nhà tôi và người dân làng biển ở đây “ăn to nói lớn” như thế, hình như chỉ có bà ngoại và mẹ tôi là ăn nói nhỏ nhẹ dịu dàng thôi!
Những ngày sau đó, bà ngoại dẫn tôi đi qua làng của bà, làng Nam Trường. Từ làng ông ngoại đi qua làng bà ngoại khá xa. Ngày xưa khi đi làm dâu xa nhà như thế này, tôi chắc là bà thường ra sau hè có bụi chuối mà khóc. “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau”. Nhất là từ ngày ông bỏ nhà ra đi vào Nam làm ăn, chỉ còn mình bà ở lại làm lụng vất vả nuôi đàn con thơ dại chờ ngày ông trở về. 
Không có xe đi, bà đã dẫn tôi đi qua những cái “trạng” cát trắng. Đường xa vì đôi chân tôi bé nhỏ mà bước trên cát lún thật khó đi nên lại càng thấy xa. Nắng trưa hè hắt xuống cát càng thêm bỏng rát đôi chân. Mà rồi cũng đến nơi. Bà ngoại tôi còn có một người chị, mệ Khiêm. Tôi không nhớ bà sống với ai trong ngôi nhà nhỏ đó, chỉ có một điều tôi thấy rất sợ là vì tôi đã nhìn thấy một cái quan tài để sẵn trong nhà. Bà ngoại tôi nói cái đó để dành cho mệ Khiêm. Ở nhà quê, người già thường chuẩn bị cho mình cái quan tài, sợ không có thì phải quấn chiếu mà chôn khi chết.
Buổi chiều tôi được ăn cơm với món cá bống thệ kho keo và món rau muống xào rất ngon mà tôi nhớ mãi đến bây giờ. Rau muống xào mà ngon nhớ mãi, nghe cũng lạ phải không? Có lẽ do lúc đó tôi đói bụng, hay vì rau muống nhà quê ngon hơn rau muống thành phố, tôi không biết nữa!
Đêm hôm ấy trời sáng trăng. Tôi ngồi ngoài sân hóng mát. Cái sân ban ngày phơi thóc vàng ươm, đêm khuya thanh vắng lại có ánh trăng ngập tràn. Nhà mệ Khiêm có vườn cau, hương hoa cau thoang thoảng, lá cau trong gió xào xạc, xào xạc … cũng làm tôi nhớ mãi đến sau này.
Chuyến về làng ngày ấy trở thành một trong những kỷ niệm đẹp nhất mà tôi từng có trong đời. Qua năm sau, trước Tết Mậu Thân, gia đình tôi chuyển vào Qui Nhơn. Xa Huế, tôi không còn dịp về quê nữa. 

Đường về làng tôi

Cho đến ngày đầu tháng ba năm nay, đã 47 năm trôi qua, trong chuyến đi về Huế lần này, hai chị em tôi đã hẹn về làng mẹ với một đôi vợ chồng người bà con vừa từ Mỹ về quê làm đám giỗ cho cha của họ. Đây là một dịp tốt vì sẽ có người dẫn đường vì đã lâu lắm rồi chị em chúng tôi nhiều lần muốn về mà không biết đường, thêm vào đó đa số bà con bên mẹ tôi đều đã bỏ làng ra đi, nhất là những người trẻ tuổi, nay ở làng không còn ai mà chỉ còn lại người già thì có muốn về thăm cũng khó.
Thời tiết năm nay trên thế giới thật khắc nghiệt, trong nước cũng có phần ảnh hưởng, mùa lạnh kéo dài hơn mọi năm, miền Trung rét đậm, miền Bắc có nơi cũng có tuyết rơi. Tôi đã nghĩ chắc Huế sẽ lạnh lắm, nhưng khi ra đến Huế thì thật may, trời lại mát mẻ và không có mưa.
Đến Huế, nghỉ một ngày, qua hôm sau cùng một số bạn bè, chúng tôi thuê xe đi thẳng. Tình cờ gặp được một người cháu họ là tài xế taxi Mai Linh biết đường về làng nên thật yên tâm. Từ Huế về Truồi, đường sá bây giờ rất đẹp. Quãng đường qua cầu qua sông phải đi nhiều chặng khó khăn ngày xưa nay rút ngắn chỉ một con đường. Khi qua cầu Trường Hà, phía trái sẽ rẽ về hướng Thuận An, còn chúng tôi đi về bên phải. Sinh, người cháu họ hỏi chúng tôi có muốn ghé “thành phố lăng” hay còn gọi là “thành phố ma” hay không. Vì cùng trên một hướng đi, chúng tôi đồng ý ghé qua, phần tò mò muốn xem thử vì từ lâu đã nghe đồn về “thành phố” này. 

Một góc nhỏ của "thành phố Lăng" An Bằng, Huế

Đó là làng An Bằng, thuộc xã Vinh An, huyện Phú Vang. Từ con đường nhỏ dẫn vào đã thấy nhấp nhô hai bên đường những ngôi mộ lộng lẫy tráng lệ không kém lăng vua chúa. Cũng lối trang trí gắn gốm, đắp nổi rồng chầu, hàng hà sa số lăng mộ có đến gần 3.000 cái trên tổng thể diện tích 40 hecta là một con số quá lớn và quá tốn kém tiền bạc. Nghe nói mỗi lăng mộ như vậy tiền xây dựng từ khoảng vài trăm triệu đến vài tỷ đồng. 450 năm trước, do những người từ Thanh Hóa vào đây lập nghiệp mà ngôi làng được hình thành. Dân làng làm nghề đánh cá biển là chính. Sau tháng 4 - 1975, những người dân làng trẻ tuổi bỏ làng ra đi khá nhiều. Qua xứ người làm ăn khá giả, họ trở về xây dựng những lăng mộ tráng lệ như thế này cho ông bà cha mẹ những người đã khuất.
Chúng tôi cùng có chung một cảm giác hơi bàng hoàng khi rời “thành phố lăng” vì không thể tưởng tượng nổi ở một làng quê xa xôi như thế này lại có quá nhiều xây dựng tốn kém cho người đã mất như thế. Trên đường về làng, Sinh dừng lại ở một nghĩa trang nhỏ, chỉ cho chúng tôi xem một “lăng” đã xây dành sẵn cho hai vợ chồng một người anh họ của tôi, Sinh nói cái “lăng” này ít tiền hơn, tuy không bằng những lăng mộ ở An Bằng nhưng trông lộng lẫy không kém!
Con đường chạy qua hàng chục cây số đồng lúa xanh tươi có rất nhiều hoa dại mọc ven đường, qua nhiều sông nước thuộc hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Cảnh tuyệt đẹp như lạc vào thiên thai. Lúc này đây câu ca dao xưa lại văng vẳng bên tai tôi:
“Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”….

Phá Tam Giang - Đầm Cầu Hai nhìn từ trên đỉnh núi chùa Túy Vân.
Chiều trên phá Tam Giang
 
Vào thời xa xưa, phá Tam Giang cùng với cửa biển Thuận An và sông Hương là thủy lộ chính lên kinh thành Huế nên ai muốn thượng kinh đều phải vượt phá, thời bấy giờ hai bên bờ phá um tùm lau sậy là nơi có sào huyệt của một nhóm cướp khét tiếng nên “thương em” mà anh không dám vào là vậy. Nơi đây là một cảnh đẹp hết sức ngoạn mục. Từ đỉnh núi chùa cổ Túy Vân nhìn xuống ta sẽ thấy hàng trăm chiếc đò nằm lặng lờ soi bóng xuống dòng nước lặng yên như một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp. Hàng năm có thể khai thác trên vùng đầm phá này hàng nghìn tấn tôm cá hải sản. Đặc biệt “tôm sóc” ở đây rất ngon và ngọt, nhiều quán bánh bèo ở Huế chỉ dùng loại tôm này làm nhân cho bánh. Và lá gói bánh nậm bánh bột lọc là lá dong chứ không phải là lá chuối càng tăng thêm hương vị thơm ngon. 
Vào đến làng, trước ngõ chợ làng tôi đã thấy khá đông người tụ tập. Có nhiều ông già mặc áo dài, đội khăn đóng màu đen bên cạnh những người đàn ông mặc âu phục, thắt cà vạt hẳn hoi. Ngôi nhà nơi tổ chức đám giỗ ở gần đó. Ông anh họ của tôi – năm nay 82 tuổi, cũng áo thụng đen đội khăn đóng, là người được dân làng bầu làm “trưởng làng” do “ăn nói khéo” và là người có uy tín với dân làng, lo việc quan, hôn, tang, tế trong làng. Khi gia đình cúng xong, họ bưng một mâm trầu cau dâng cho ông trưởng làng. Trưởng làng nhận mâm trầu cau rồi là bữa tiệc bắt đầu.

Tụ tập đi ăn giỗ ở làng
Trước chợ làng cùng với ông trưởng làng
 
Có khoảng 15 bàn ăn ở đây, mỗi bàn 10 người. Và toàn là đàn ông đi ăn cỗ. Có vài người đàn bà, nhưng không nhiều, có lẽ vì chồng đã mất nên các bà đi thay thế. Bên hàng xóm, lấp ló vài người đàn bà từ xó bếp. Trong nhà ngay cả con dâu cũng không được phép ngồi ăn với làng mà phải ăn sau. Tất cả phụ nữ đều ở phía sau hè, tay bồng tay bế con nhỏ hoặc đang cho vịt gà ăn.

Tôi bỗng nhớ lại ngày xưa ấy lúc về làng cùng với ngoại tôi cũng đã được dự một đám cúng giỗ ông cố ngoại tổ chức ngay nhà thờ họ. Tiếc là tôi không thể nhớ nhiều, chỉ thấp thoáng nhớ rất đông người đến dự. Người ta đã mổ heo làm thịt ngay lúc đó, rồi sau khi luộc chín, vừa dọn ăn, mỗi người còn được lãnh một phần xôi thịt đem về.
Ông anh họ của tôi, ngày xưa từng làm xã trưởng ngôi làng này. Ngày ấy đơn vị hành chính làng xã là một làng một xã, bây giờ ở nơi đây một xã có 4 thôn, mỗi thôn chừng vài ba chục hộ dân. 10 năm trước đây, con cái đã đón 2 ông bà qua Mỹ sống. Được vài năm, ông than buồn nhớ quê nên đòi về, các con cho ông bà về, xây một cái nhà thật to, làm sẵn luôn “lăng” mộ, lót cả đường đi vào nhà thờ họ. Rồi ông lại được dân làng bầu làm “trưởng làng”. 

Ông chắc lưỡi nói “Làm cho vui như ri chớ cực lắm, không có ăn lương, mà nhà ai có chuyện chi ghen tuông đêm hôm cũng gọi, kiện cáo cũng kêu cũng réo, cúng kiếng cưới xin tang ma đều phải có mặt!"
Ăn giỗ xong, chúng tôi theo ông anh họ đi thăm một vài nhà bà con, các mệ các o còn lại trong làng. Họ ôm chầm lấy chị em tôi, có người khóc ròng khi nhắc đến ngoại, mẹ tôi. Chúng tôi cũng ghé thăm những ngôi chùa làng mà mẹ tôi ngày trước thường lui tới. Tôi đã rất vui và cười nhiều hôm ấy. Sung sướng biết bao khi được sống trong cảnh làng quê lần này, dù chỉ vài tiếng đồng hồ! Rồi tôi ra đứng ngoài cánh đồng mênh mông lộng gió, hít thở khí trời trong sạch. Ngôi làng có vẻ khang trang hơn trước nhiều. Nhà nào cũng có vườn rộng, hoặc có ao nuôi cá. Tôi hỏi ông anh về giá đất ở đây. Ông bảo chỉ sợ không ai chịu ở, chứ đất ở đây … cho không!

Ngôi trường làng
Đến trường

Một ngôi trường làng tôi gặp trên đường là trường tiểu học của xã, khá lớn và tử tế. Các em học sinh túa ra từ các cánh đồng, nơi xa xa là những xóm nhỏ. Các em hồn nhiên nhảy qua những con mương để đến trường, hay đèo nhau trên chiếc xe đạp từ lùm tre phóng ra. Cách đó không xa là biển Vinh Hiền, một bãi biển còn hoang sơ rất đẹp với những chiếc thuyền gỗ có thiết kế là lạ đẹp gần như những chiếc thuyền cổ Ai Cập nằm trên biển chờ giờ ra khơi. Qua bên cửa Tư Hiền còn có chùa cổ Túy Vân thành lập từ cuối thế kỷ 17, cảnh đẹp như cõi tiên, nay vẫn còn dấu bia đá khắc đề thơ của Vua Thiệu Trị. Và tôi đã nhớ ra rồi, ngày ấy nơi này, tôi đã leo lên những bậc tam cấp đá nhìn xuống biển. Vẫn còn cảnh cũ ngày xưa nhưng ông anh họ người dẫn tôi ra biển đã mất vì bom đạn vào những ngày tháng tư 1975. Mệ Khiêm với chiếc quan tài để sẵn trong nhà cũng không còn. Rồi các bà cô bên ông ngoại, bà ngoại tôi, cả mẹ tôi nữa cũng đã đi xa lắm rồi.
Tôi bước đi trên bờ ruộng mà lòng cứ ngẩn ngơ giữa hiện tại và nỗi nhớ về ngày xa xưa ấy. Nhớ bước chân cùng bà ngoại đi qua những cái “trạng” cát trắng. Nhớ ánh trăng chiếu sáng sân phơi thóc nhà mệ Khiêm, mùi hương hoa cau thoang thoảng, tiếng lá xào xạc và cánh chim vỗ bay vút vào trong đêm xa xăm. Tôi thấy tôi đang đi tìm lại tuổi thơ tôi. Đâu đó là dấu chân, là tình yêu của ngoại, của mẹ, của những người bà con thân thuộc luôn mở rộng vòng tay đón tôi về. Có một nơi chốn để về, như đứa trẻ con chỉ thấy ấm áp khi đang ở trong nôi, trong vòng tay yêu thương của mẹ hiền. Và dường như chưa bao giờ tôi cảm thấy được niềm hạnh phúc tỏa lan trong lòng tôi đầy xúc động đến như thế...

NGUYỄN DIỆU TÂM
Hình ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
Tháng 3 - 2014

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẢI THÍCH VỚI CON TRẺ

Tôi không biết phải xoay xở thế nào với những gì diễn ra sau cuộc nói chuyện về cái chết, vì thế mỗi khi nhắc đến chủ đề này, tôi thường cố gắng hướng sự chú ý của Sonya sang chuyện khác, hoặc trả lời mơ hồ kiểu như "Ông bà đã đi rất xa con ạ".
Tôi không thích thú gì khi phải chờ 5 năm nữa để nói cho con gái về thế giới bên kia. Tôi không biết sau cái chết là gì và không nghĩ rằng chúng tôi cần phải biết, nhưng tôi rất sợ phải nói với con gái về điều đó. Dì của tôi mất lúc tôi mới 10 tuổi, bố tôi cũng qua đời sau đó một năm. Bố dượng tôi mất khi tôi 16 tuổi. Tôi nhớ mẹ đã cố gắng giải thích về cái chết cho tôi, dùng những từ như "yên bình" và "nhẹ nhõm", khiến tôi càng thêm bối rối.
Tôi biết Sonya rất để ý đến các tiểu tiết nên khó có thể chấp nhận những mô tả mơ hồ. Nhưng nếu tôi bịa ra một bữa tiệc trên bầu trời hoặc một vùng đất với những cây kem và các cô tiên, con bé sẽ không hỏi nữa.
Chồng tôi, Jay, chọn cách nói rằng đó là một bí ẩn, rồi sau đó tháo nút bằng những câu hỏi. Jay là người đã ôm tôi tại lễ tang của mẹ, và vài tháng sau đó, chúng tôi hẹn hò. Tôi từng hét lên với anh rằng anh không bao giờ hiểu được thế nào là mất mát cả. Có thể là anh không hiểu thật, nhưng có phải tôi hiểu nhiều hơn chỉ vì tôi đã trải qua nó trước đó?
Sáng thứ bảy hôm đó, trong khi Sonya đang say sưa vẽ hình trái tim, tôi đã bắt chuyện với con gái:
"Này con gái, con có nhớ mẹ nói là khi nào chúng ta có thể đến thăm bà Jonie và ông Roger không?"
"Có ạ".
"À, mẹ nhầm đấy. Thực sự là chúng ta không thể làm điều đó, vì ông bà đã mất cách đây rất lâu rồi".
Sonya cười và nói: "Không, ông bà không chết".
"Có, họ đã mất rồi con ạ", tôi nói tiếp. "Và sau đó ông bà trở nên vô hình, nhưng chúng ta có thể nghĩ về họ và ngắm những bức ảnh của họ. Có người nói rằng sau khi chết rất thú vị, có người lại nói rằng rất yên tĩnh".
"Nếu con có câu hỏi gì hoặc muốn trao đổi gì về chuyện này thì chúng ta có thể nói vào bất cứ lúc nào nhé", Jay tiếp lời.
Sonya nhún vai và quay trở lại với tác phẩm nghệ thuật của mình. Jay và tôi chầm chậm đứng lên. Chúng tôi không dám chắc thông điệp của mình đã được con bé thấu hiểu. Nhìn Sonya không có vẻ gì là buồn bã cả, nhưng vợ chồng chúng tôi vẫn đập tay nhau ăn mừng phía trên đầu con bé. Khủng hoảng đã được ngăn chặn.
Cho đến cuối mùa thu năm ngoái, vào sinh nhật 40 tuổi của mình, Shoshana, bạn tốt nhất của tôi, trèo lên một mỏm đá ở sân sau và giải thích về một trò chơi cho lũ trẻ con. Shoshana được chẩn đoán đang mắc bệnh ung thư giai đoạn 4. Tôi đã từng chứng kiến cô ấy chống lại tất cả các bác sĩ và những chẩn đoán bệnh, nhưng khi nhìn Shoshana loạng choạng cạnh con lừa bằng giấy, tôi biết bạn mình đang chết dần.
Bằng cách nào đó mà không phải do tôi nói, Sonya cũng nhận thấy điều đó. Tôi đã cảnh báo con bé về việc Shoshana đội một chiếc mũ lớn và trông rất mệt mỏi.
Khi chúng tôi trở về nhà sau bữa tiệc, Sonya bắt đầu nhắc đến cái chết bất cứ khi nào có thể. 
"Nhà mình chụp ảnh đi", tôi nói. 
"Nhưng nhà mình đã chết", Sonya đáp.
Hoặc khi Jay đang ôm con bé trong tay và nói: "Một ngày nào đó bố sẽ nhảy điệu này cùng con trong đám cưới con gái nhé". 
"Nếu bố không chết trước lúc đó", Sonya đáp.
Sau đó, khi chúng tôi đang chơi trong công viên, tôi nhận được cuộc gọi. Shoshana đã qua đời. Nhà của cô ấy bây giờ là bầu trời trong xanh kia, hoặc cũng có thể cô ấy đang ở dưới những bóng cây.
Đây là câu chuyện mà tôi thực sự rất sợ phải nói. Đó là mất mát đầu tiên mà tôi và Sonya cùng trải qua. Không ai chịu trách nhiệm và không ai có lỗi cả. Đó là một phép ma thuật khủng khiếp: vừa ở đây một phút, thoắt đã sang chỗ kế tiếp, và chỗ tiếp theo sau đó, rồi mãi mãi. 
Jay và tôi ngồi trên vỉa hè và giải thích rằng, cô Shoshana đã qua đời. Điều này giúp cơ thể cô ấy không còn đau đớn, nhưng cũng khiến chúng tôi không còn được gặp cô ấy nữa. Tôi nghe thấy bản thân mình đang dùng đúng những từ mơ hồ mà mẹ tôi từng nói với tôi cách đó hàng chục năm: "yên bình" và "nhẹ nhõm". 
Tôi cố gắng thuyết phục mình như khi còn là cô bé 5 tuổi, rằng đó là sự thật, rằng Shoshana có thể sống ở một nơi tốt hơn. Khi tôi bắt đầu ngập ngừng, Jay nói rằng tôi có thể buồn một chút. Và một lần nữa, chúng tôi lại bỏ ngỏ cho Sonya đặt câu hỏi.
Sonya hỏi tôi liệu có thể cho con bé thấy tôi buồn như thế nào bằng cách dùng tay đo không. Tôi đưa hai bàn tay ra cách nhau một khoảng bằng vai của mình. Sonya nghiên cứu thước đo nỗi buồn của tôi và gật đầu. "Ok, chúng ta vẫn có thể ăn kem chứ mẹ?", con bé hỏi.
"Có chứ", tôi buột miệng, dù đó đã là cây kem thứ 10 trong buổi sáng. 
Đó là điều duy nhất tôi cảm thấy mình có thể trả lời chắc chắn. Đúng vậy. Nhìn nụ cười ngọt ngào của con gái, nghe con hát trên vai của Jay, ngửi mùi lá mới vẫn còn ẩm ướt từ đêm hôm trước. Đúng thế. Đó là những gì có ý nghĩa để ta tiếp tục sống mà không cần đi tìm những câu trả lời.

ABBY SHER
Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/lam-the-nao-de-giai-thich-voi-con-tre-ve-cai-chet-2941859.html

William-Adolphe Bouguereau ( 1825-1905 ) - The Difficult Lesson, Oil 1884

Đọc câu chuyện trên đây, tôi nhớ đến bé Sarah con gái 3 tuổi của cô em gái lúc mẹ tôi mất. Bình thường bé loanh quanh trong nhà và thỉnh thoảng săn sóc bà ngoại bằng cách gọi người lớn khi phát hiện có con kiến nào đó đang bò đến gần bà, hoặc sau khi cô giúp việc cho bà ăn xong thì cháu đòi giúp bà ngoại uống thuốc. Ngày bà ngoại mất, mẹ cháu cho cháu sang nhà hàng xóm chơi, buổi tối khi về nhà không nhìn thấy bà trên giường nữa, cháu hỏi cô giúp việc: Bà ngoại của con đâu rồi? Không ai dám trả lời câu hỏi của bé. Cô giúp việc nói khe khẽ: Bà ngoại đi chơi rồi con ạ! Nhưng cháu đã phát hiện ra chuyện khác thường với bà ngoại khi thấy nhà có rất đông người đến viếng lễ tang. Cháu từ trên lầu nhìn xuống và lại hỏi: "Có phải bà ngoại đang nằm trong cái hộp đó không? Tại sao ai cũng nhìn vào cái hộp đó?" Mặt cháu có vẻ lo sợ. Cô giúp việc vội đem cháu vào phòng và khóa cửa lại. Những ngày sau thì lại càng khó giấu. Nhà luôn đông người và mọi người trong gia đình đều mặc những chiếc áo "lạ". Có nhiều hoa và nhang đèn. Hình bà ngoại đặt trước cái "hộp". Cháu không chịu qua nhà hàng xóm nữa mà đòi được tham gia với mẹ và các dì cậu vì nghĩ rằng bà ngoại đã ở trong cái hộp ấy. Sau đám tang, cháu nhìn thấy bà trên bàn thờ lúc nào cũng có nhang khói. Mỗi lần có ai đến nhà, cháu kéo tay đến bàn thờ và bảo: Thắp nhang lạy bà ngoại đi! Nhưng cháu vẫn thắc mắc: Bà ngoại đi đâu rồi hở mẹ?

* Nguyễn Diệu Tâm



Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

TỐNG BIỆT


"Lá đào rơi rắc lối thiên thai,
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi"
Tống biệt được trích trong vở chèo Thiên Thai do Tản Đà sáng tác năm 1922. Nội dung vở diễn tích hai chàng thư sinh là Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời Hán, nhân tết Đoan ngọ (còn gọi là tết Đoan dương, ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch), vào núi Thiên Thai (Chiết Giang, Trung Quốc) hái thuốc bị lạc lối về. Hai chàng bất ngờ gặp được tiên nữ, rồi kết làm vợ chồng. Sống hạnh phúc được nửa năm thì cả hai cùng nhớ quê muốn về thăm. Các tiên nữ cho biết đây là cõi tiên, đã về trần thì không thể trở lại, song vẫn không giữ được hai chàng. Lưu, Nguyễn về làng thấy quang cảnh khác xưa, thì ra họ đã xa nhà đến bảy đời. Buồn bã, hai chàng trở lại Thiên Thai, thì không còn thấy các tiên đâu nữa...Kể từ đấy, họ cũng đi đâu biệt tích.
Ở bài Tống biệt, tác giả chỉ nói đến cảnh chia biệt đầy lưu luyến của Lưu-Nguyễn với hai nàng tiên, để qua đó "thầm gửi gắm niềm thương tiếc của mình đối với cái đẹp không bao giờ trở lại"
Tống biệt là bài từ khúc theo điệu Hoa phong lạc, rút từ vở chèo Thiên Thai, có thể coi là một bài toàn bích. Vì đây là vĩnh biệt (từ đây xa cách mãi), cho nên bài thơ có nhịp chân bước quyến luyến mà chậm rãi, dường như ung dung. Văn khí trong thơ thay đổi luôn, câu ngắn thì như nấc như nghẹn, câu dài thì như tiếng than não nuột của một cặp tình nhân chia tay nhau giữ cảnh trời đất mênh mông...
Giới thiệu bài thơ này, thi sĩ Bùi Giáng có lời bình:
"Lá rơi - Hình ảnh của lìa tan, của ly biệt...Người đi. Khách phàm trần đã lên đây, đem lên đây tình yêu của hạ giới, gây bàng hoàng cho lòng xanh tiên nữ, để giờ đây chia biệt, đem tình về hạ giới, cho lòng xanh tiên nữ lại bâng khuâng...Lời tiễn đưa vang nhè nhẹ giữa Đào Nguyên trăng sáng rộng vô ngần. Như hồn xuân đêm yểu điệu. Như ngậm ngùi tình vương vấn thiên thai. Như gió lùa thổi vào tâm hiu hắt...
Sực tỉnh rồi...còn đâu nữa mộng lòng xuân. Nụ hồng giữa vườn xuân không hé phơi lần nữa. Đá mòn. Rêu nhạt. Nước chảy-Huê trôi. Cái hạc bay lên vút tận trời...đem đi mộng cũ của lòng ta...Tình của người lặng đi giữa bốn bề câm nín. Lạnh mang mang vây ám mãi nghìn năm. Đường lối cũ, nơi đầu non cửa động. Trăng chơi vơi còn sáng mãi, hững hờ. Mộng Thiên Thai võ vàng, đã mòn mỏi...
Bài thơ quả là có mang ý nghĩa tượng trưng đó. Tống biệt? Vĩnh biệt Thiên Thai là vĩnh biệt hồn thơ của tuổi mộng-Tuổi mộng không ở mãi với hồn thơ, để thắm mãi giữa đời...."
Nhà nghiên cứu Thạch Trung Giả phân tích:
..."Ngậm ngùi" là nỗi buồn sâu xa thấm thía, tuy không mãnh liệt đốt xét lòng người nhưng dư vang bất tuyệt. Trong cuộc tiễn đưa, bốn người đã ngầm biết không bao giờ gặp lại nên tình cảm của họ lắng sâu như thiên cổ.
"Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai"...
Diễn tả nỗi bàng hoàng của người thấy cuộc vui qua mau như giấc mộng. Trần ai xuất từ kinh Phật ví cõi đời ô trọc và vô thường. Để rồi từ đó mạch thơ chuyển sang thơ "Đá mòn, rêu nhạt/Nước chảy, huê trôi" cốt nói thêm rằng cuộc tan vỡ này không phải là ngẫu nhiên mà là theo định luật chung của vũ trụ. "Cái hạc" không những chỉ chiếc xe tiên mà còn ám tỷ hạnh phúc từ đây hoàn toàn mất hút. Tiếng "thơ thẩn" như tả một người đi lẻ loi. "Bóng trăng" có thể coi như là một linh hồn trầm tư cúi xuống chứng kiến nơi đã ghi dấu một cuộc tình duyên đẹp nhất và cũng bi thương nhất...Về mặt nghệ thuật, chữ dùng tinh vi, gợi cảm đến mức cuối cùng.
( Nguồn: Wikepedia )

Ảnh: Hoa Đào Mùa xuân ( Photo by Tam Nguyen Nguyễn Diệu Tâm )
Mến tặng "động tiên" Việt Hán I ĐHSP Saigon 1973-1977 Nga Le, Vân Đoàn, Kim Loan Tran, Dilinh Dang, Nguyet Nguyen, Tran Thi Cam Hong, Chị Thúy, Bạch Ngọc, Tuyết Lệ, Khánh Hòa, Đoan Trang, Tuyết Mai, Nguyễn Tuy, Hoàng thị Diệu, Hoang Coc, Lê Tuấn, Nguyễn Tùy .... và tất cả các bạn VH 1 năm xưa.
Tống Biệt là bài hát động tiên đã chọn làm "nhạc nền". 

Tống Biệt, Thơ Tản Đà, Nhạc Võ Đức Thu. Ca sĩ Thái Thanh:
http://nhacso.net/nghe-nhac/tong-biet.WFtWUktb.html