Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

MƯỜI NGÀY TRÊN ĐẤT PHẬT ( II )



Phần II: LÂM TỲ NI, NEPAL.

Hành hương Ấn Độ đến các thánh tích tứ động tâm của Phật giáo có nhiều cách đi. Địa bàn hoạt động của Đức Phật chỉ trong phạm vi hai bang Uttar Pradesh,  Bihar và một phần của nước Nepal ngày nay, diện tích tổng cộng khoảng 340.000 km2  , chỉ hơn 1/10 diện tích của nước Ấn Độ ngày nay. Trong đó thành phố Kushinagar ở vị trí trung tâm các thánh tích, cách Lumbini khoảng 100km, cách Vaishali 150km, cách Sarnath 200km, cách Bodhigaya 300km, cách Sankasya khoảng 400km. Có nhiều đoàn chỉ đến hoặc sẽ đi từ Bodhigaya (Bồ Đề Đạo tràng) là nơi tập trung hành hương đông nhất, lớn nhất, riêng chương trình của chúng tôi có vẻ là đi khá nhiều khi từ New Delhi đi Agra, Lucknow, Shravasti, qua Nepal đến Lâm Tỳ Ni rồi mới trở về lại Ấn Độ đi theo tuyến đường Kushinagar- Vaishali- Patna - Nalanda - Rajgir - Bodhgaya viếng đền Đại Niết Bàn, đại học Nalanda, núi Linh Thứu, Bồ Đề đạo tràng rồi cuối cùng mới đến Varanasi viếng sông Hằng và Sarnath (vườn Lộc Uyển) và từ đây mới ra sân bay về lại New Delhi để chuyển tiếp máy bay đi Kuala Lumpur trở về Việt Nam. Vì vậy, có thể nói đây là một chuyến đi dài viếng được đầy đủ các thánh tích quan trọng của Phật giáo và một số địa danh lớn ở đất Ấn. 

Lumbini, Nepal.

Từ Shravasti, chúng tôi đi về biên giới Ấn Độ - Nepal. Xe đi qua nhiều tỉnh thành, làng mạc. Đồng thời đây cũng là những quãng đường mà tôi có thể nhìn thấy một đất nước Ấn Độ với nhiều sắc màu của nó. Thủ đô New Delhi với sân bay lớn, thành phố với những khu vực hành chính, khách sạn, nhà hàng, các shoping malls sang trọng; thành phố cổ Agra với kiệt tác đền Taj Mahal, pháo đài Agra đỏ nổi tiếng xa hoa lùi dần về phía sau, nhường chỗ cho những thị trấn nhỏ, những ngôi làng, đồng ruộng, người dân Ấn và sinh hoạt đời thường của họ. 


Càng đi xa dần thành phố càng nhìn thấy cảnh làng quê xơ xác nghèo nàn, nhất là hướng đi về phía Nepal. Hai bên đường cao tốc những cánh đồng cũng xanh tươi, hoa cải nở vàng khá đẹp nhưng những xóm làng nhỏ và nghèo lắm. Khi qua nhiều khu chợ quê, tôi nhìn thấy những cửa hàng nhỏ bề ngang chỉ chừng 1 m, rất nhỏ, nhìn từ trên xe xuống trông như một cái hộp. Một tiệm may chỉ vừa đủ đặt một cái bàn máy may. Tiệm hớt tóc chỉ vừa đủ chỗ cho một cái ghế để khách ngồi hớt tóc. Các tiệm tạp hóa, các xe hàng bán trái cây treo hàng chung quanh kín mít. Có đi xa ra ngoại ô mới nhìn thấy những khu nhà “ổ chuột” như trong phim “Triệu phú ổ chuột”.  Mỗi gia đình với đàn con đông nheo nhóc, tất cả ăn uống ngủ nghỉ chui ra chui vào trong các túp lều nhỏ xíu đó. Rất nhiều nơi không có nước. Và có đi xa qua những khu nhà gần đường rầy xe lửa mới thấy y hệt như những gì ta đã thấy trong phim ảnh. Những đứa bé sống loanh quanh đường rầy xe lửa, lang thang, nhem nhuốc và đến những điểm thánh tích, bạn sẽ gặp rất nhiều đứa bé, những người già, tàn tật nghèo khổ ngồi dọc theo ngoài cổng xin tiền. 


Trên chuyến xe lửa đi Lucknow, mọi người được phát mỗi người một phần bánh và một chai nước suối. Trên chai có ghi các điểm đáng chú ý:
"Nếu bạn tình cờ gặp một đứa bé trơ trọi một mình, có vẻ như bị lạc đường, tỏ vẻ sợ hãi, đang khóc hoặc bị đi kèm cùng những người nước ngoài. Những đứa trẻ này có thể cần sự giúp đỡ của bạn khi chúng có lẽ bị lạc, bị bán hoặc chạy trốn. Bạn có thể gọi cho số 100 hoặc 182 hoặc 1098 hoặc liên hệ với xếp ga, các cảnh sát địa phương trên xe lửa hay ở trạm xe lửa..."
Tình hình trẻ em tại Ấn Độ bị mua bán, bắt cóc, thất lạc đã xảy ra từ lâu và rất nhiều. Theo National Human Rights Commission (NHRC) vào năm 2005 là số trẻ em bị mất tích là 44.000 em, trong đó hơn 11.000 em không tìm ra dấu tích.
Đoạn đường từ Kushinagar đến Lumbini chừng 190 km. Đến cửa khẩu, xe dừng và chúng tôi chờ người hướng dẫn Ấn Độ đến khu xuất nhập cảnh trình passport của cả đoàn. Giữa trưa nắng chang chang và trên con đường mịt mù bụi đường, xe cộ đông nghẹt nằm dài chờ đi qua biên giới. Cũng hơn 2 tiếng đồng hồ chúng tôi mới được đi qua. Đến Nepal, đoàn lưu lại khách sạn Lumbini Zambala, khá gần với vườn Lâm Tỳ Ni, nơi đức Phật đản sanh khoảng 2.600 năm về trước (c. 563/480 – c. 483/400 BCE).

Dưới cội bồ đề, nơi ngày xưa là cây Sala.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đến Lâm Tỳ Ni khi trời còn mờ sương. Quang cảnh hai bên thơ mộng với những ao hồ cỏ cây hoang dại và những con cò, sếu đang kiếm ăn. Một hồ nhân tạo đang được đào dẫn từ ngoài cổng vào tận khuôn viên đền thờ hoàng hậu Mayadevi cũng khoảng hơn 1 km. Tôi nghĩ có lẽ sau này người ta sẽ dùng thuyền để đưa khách vào rút ngắn đường đi, còn hiện nay vẫn dùng xe lam chở khách và đường vào rất xấu.
Năm xưa, vào thời đức Phật tại thế, Lâm Tỳ Ni là một khu vườn xinh đẹp nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha nay thuộc Nepal. Sau gần 10 thế kỷ hoang phế kể từ lúc các thánh địa Phật giáo bị tàn phá vào cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, dựa vào các bộ ký sự của các vị danh tăng Pháp Hiền (337-422) và Huyền Trang (602-664) vào năm 1896 hai nhà khảo cổ người Đức Alois A. Feuhrer và Khadga Samsher đã khai quật và phát hiện trụ đá A Dục (Asoka) trên vùng đất có tên “Rummindei”. Năm 1997, UNESCO chính thức liệt kê Lâm Tỳ Ni thành di sản văn hóa thế giới, tiếp tục khai quật, trùng tu và tôn tạo. Ngày nay tại Lâm Tỳ Ni chỉ còn một cây bồ đề (nơi ngày xưa là cây Vô ưu), hồ Puskarni hay Holy Pond nơi hoàng hậu Mada đã nhúng nước trước khi hạ sinh đức Phật, trụ đá Vua A Dục và đền thờ hoàng hậu Mayadevi temple.

Mayadevi temple, đền thờ Hoàng hậu.

Cũng như ở Kỳ Viên tịnh xá, vườn Lâm Tỳ Ni có nhiều nhà sư đến ngồi thiền định, tu tập và rất đông các đoàn hành hương từ các nước Phật giáo khắp nơi đến chiêm bái, cúng dường tại đền Mayadevi, cội bồ đề, hồ nước thiêng và trụ đá vua A Dục. Có rất nhiều cờ Phật giáo và cờ phướn đủ màu do Phật tử Tây tạng giăng khắp nơi trên các tàng cây. Nhờ vậy, khung cảnh Lâm Tỳ Ni ngày nay vừa ngập tràn không khí linh thiêng mà rộn rã vui tươi như đón mừng đức Thế Tôn đản sinh.
 
Vui thay Phật ra đời!
Mùa lễ Phật đản (PL 2562 - DL 2018)

(Còn tiếp)
Tường thuật và hình ảnh: Dieu Tam Nguyen
Xem thêm: https://www.facebook.com/ngdieutam/media_set?set=a.1797668043630284.1073742302.100001613180918&type=3

Tăng lữ khắp nơi dến Lâm Tỳ Ni tu tập.

Đọc thêm về Lâm Tỳ Ni:
Là một trong những nơi hành hương nổi tiếng của Phật giáo tại quận Rupandehi thuộc nước Cộng hòa dân chủ liên bang Nepal nằm cách biên giới Sonauli Ấn Độ khoảng 36km, Lâm Tỳ Ni được cho là nơi hoàng hậu Mayadevi (Mada) đã sinh ra Siddhartha Gautama (Tất-đạt-đa), người sau này trở thành Phật Thích Ca và đã khai sinh ra Phật giáo. Đức Phật đã sống trong khoảng thời gian từ năm 563 đến 483 TCN. Lâm Tỳ Ni là một trong 4 nơi hành hương nổi tiếng và cũng là những nơi quan trọng gắn liền với đời sống của Đức Phật, 3 nơi còn lại là Kushinagar (nơi đức Phật nhập Niết Bàn), Bodh Gaya hay còn có tên Bồ Đề Đạo Tràng (nơi đức Phật thiền định 49 ngày dưới cây bồ đề và giác ngộ ra giáo lý của Phật giáo) và nơi cuối cùng là Sarnath (nơi đầu tiên đức Phật giảng Pháp - kinh gọi là chuyển Pháp luân).

Đoàn hành hương chiêm bái tượng dức Phật đản sanh tại Lâm Tỳ Ni.



Lâm Tỳ Ni tọa lạc dưới chân dãy Himalaya. Cách 25km về phía đông của kinh thành Ca Tỳ La Vệ xưa, nơi được cho là đức Phật đã sống đến 19 tuổi trước khi xuất gia. Lâm Tỳ Ni có một số ngôi chùa và đền thờ trong đó có đền thờ Hoàng hậu Mada. Ngoài ra tại đây còn có ao Puskarni hoặc Holy, nơi Hoàng hậu Mada đã làm lễ nhúng nước trước khi sinh đức Phật ra đời. Tương truyền khi được sinh ra tại đây Ngài đã đứng vững thăng bằng trên hai chân, mặt hướng về phía Bắc đi bảy bước, mỗi bước đi của đức Phật đều được đỡ bởi một tòa sen phía dưới, Ngài nhìn khắp cả bốn phương, một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất và nói rằng:
"Aggohamámi lokámim
Settho ettho anuttaro
Ayaca antimà jàti
Natthidàni punabbhavo"
Dịch nghĩa:
"Đây là kiếp cuối cùng của ta
Duyên sanh không, không còn nữa
Trên trời và dưới đất
Ta là bậc chí tôn."

Câu trên đây thường được trích một phần: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn" dịch ra tiếng Việt là: "Trên trời dưới trời, chỉ có ta là tôn quý" được ghi trong Kinh Sơ-Đại Bản-Duyên trong bộ Kinh Trường A hàm Quyển Một, một quyển kinh ngắn lược thuật nhân duyên giáng sanh, thành đạo và giáo hóa của bảy đức Phật trong thế giới Ta Bà. Nguyên văn câu đó được dịch như sau: "Trên trời dưới trời, duy ta là tôn quý, ta muốn cứu độ chúng sanh khỏi vòng sinh già bệnh chết". Đó là lời Đức Phật Thích Ca thuật lại khi Đức Phật Tỳ Bà Thi, vị Phật thứ nhất bổ sanh trong thế giới Ta Bà, ra đời đã nói lên lời như vậy, cũng giống như Ngài (Phật Thích Ca) đã nói lên lời như vậy, và "ấy cũng là thông lệ của chư Phật" (*)

Đoàn hành hương đến từ  Campuchia.

Ngoài ra nơi đây còn phần còn lại của cung điện Ca Tỳ La Vệ.
Vào thời của Đức Phật, Lâm Tỳ Ni là một khu vườn xinh đẹp và đầy màu xanh nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal. Hoàng hậu Mada đã hạ sinh ra đức Phật tại đây khi đang trên đường trở về nhà cha mẹ để sinh con đầu lòng theo tục lệ truyền thống của Ấn Độ lúc bấy giờ. Các tấm phù điêu tại đây mô tả cảnh Hoàng hậu Mada với tay phải cầm một nhánh của cây Sala (Shorea) với một đứa trẻ sơ sinh đứng thẳng trên những cánh hoa sen, xung quanh đầu đổ một vầng hào quang hình bầu dục và cùng các thiên sứ của nhà trời cũng có mặt.


Khu vườn tượng miêu tả cảnh đức Phật đản sanh.

Năm 249 TCN, khi vua A-dục vương (Ashoka) đến thăm Lâm Tỳ Ni, nơi đây còn là một ngôi làng phồn thịnh. Vua A Dục đã cho xây dựng bốn ngôi tháp và một cột trụ bằng đá. Cây cột trụ bằng đá được khắc chữ và dịch ra như sau : “Ta là vua A Dục, là niềm tin tưởng của chư thiên, trong 20 năm trị vì này, ta đã thực hiện một chuyến thăm của hoàng gia đến nơi đức Phật được sinh ra tại đây…Lâm Tỳ Ni được giảm một phần tám thuế".



Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nằm trên một ngọn đồi thấp dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn, cách kinh thành Ca Tỳ La Vệ xưa (nay là Kapilavastu) khoảng 25 cây số về hướng Đông, cách biên giới Ấn - Nepal 36 cây số và cách thủ đô Nepal Kathmandu 320 cây số. Nơi đây đã có một thời gian lâu dài bị lãng quên. Mãi đến ngày 1 tháng 12 năm 1896, tức là khoảng 2500 năm sau, hai nhà khảo cổ người Đức Alois A. Fuhrer và Khadga Samsher mới khai quật và phát hiện tại nơi đây một trụ đá có ghi khắc sắc lệnh của vua A Dục (Asoka), mới biết đây là Thánh địa, nơi đản sanh Đức Thế Tôn. Trụ đá được các nhà khảo cổ dựng lại ngay trên nền nguyên thuỷ, và công tác khai quật, trùng tu và bảo trì Lâm Tỳ Ni bắt đầu từ đấy.
Năm 1997, UNESCO chính thức liệt kê Lâm Tỳ Ni trở thành di sản văn hoá thế giới, tiếp tục khai quật, trùng tu và tôn tạo Lâm Tỳ Ni.


* Nguồn Internet tổng hợp Wikipedia, thư viện Hoa Sen (*).


* Hình 6, 7, 8, 9: Tăng lữ và tín đồ Phật giáo khắp nơi đến hành hương và tu tập tại Lâm Tỳ Ni trong một buổi sáng mùa xuân.
* Hình 4, 5: Khu vực hồ Puskarni (Holy Pond) này được xác định là nơi đức Phật đã đản sanh khoảng 2.600 năm về trước. Bên kia hồ là cây Bồ đề cổ thụ được trồng vào chỗ cây Vô Ưu hay Sala (Shorea) năm xưa.
Phía trước đền còn một trụ đá nâu của Vua A Dục người đã đến viếng thăm Lâm Tỳ Ni và cho khắc chữ xác định đây là nơi đức Phật đã đản sanh.
Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm

MƯỜI NGÀY TRÊN ĐẤT PHẬT ( I )



Phần I: NEW DELHI, AGRA, SHRAVASTI.

Bài viết và album ảnh này ghi lại những sắc màu, quang cảnh, thiên nhiên và con người trong những thành phố, xóm làng trên nước Ấn mà chúng tôi đã đi qua. Những hình ảnh này cũng sẽ làm cho tôi khó quên chuyến đi hành hương đầy ý nghĩa và ấm áp đến đất Phật khi 15 con người không quen nhau cùng gặp nhau trong đoàn du lịch.

Taj Mahal, ngôi đền của tình yêu vĩnh cửu.

Không thể không nhắc đến Anh Thy, người hướng dẫn chuyên nghiệp, kiến thức rộng, lanh lợi tháo vát, đặc biệt là có cái tâm lớn vô cùng. Tất cả những điều đó thể hiện qua cách hướng dẫn, sắp xếp lịch trình, nơi ăn chốn ở, tham quan, phương tiện đi lại cho cả đoàn trong suốt 10 ngày. Không chỉ thế, mỗi lần đến một địa điểm hành hương, anh đều giảng giải rõ ràng chi tiết cho chúng tôi hiểu, khuyên chúng tôi cần và nên làm gì ở đó. Sau chuyến đi, nếu hỏi rằng có điều gì làm những người đi hành hương trong đoàn chúng tôi phật ý, thì phải nói là không những không có gì dù chỉ là một chút sơ suất nhỏ mà là một chuyến đi thành công và tốt đẹp không thể ngờ. Đây là một chuyến đi không phải là du lịch như bình thường, mà Thy đang phải hướng dẫn những người lớn tuổi trong một chuyến hành hương đến những thánh tích quan trọng của Phật giáo. Anh tâm sự bao giờ dẫn đoàn đi Ấn độ anh cũng cảm thấy lo lắng, tâm trạng không thể như ở những chuyến đi khác. Khi xuống máy bay ở New Delhi và bắt đầu di chuyển đến Agra, đi xe lửa qua Lucknow v.v... trên xe anh phát cho chúng tôi mỗi người một bản kinh chú Đại bi và khuyên chúng tôi nên niệm Phật trên suốt con đường.

Đoàn hành hương viếng bảo tháp trưởng lão Cấp Cô Độc (Anathapindika)

Những giờ phút phải ngồi trên xe suốt nhiều tiếng đồng hồ, đoàn chúng tôi bắt đầu chia sẻ với nhau những câu chuyện của chính mình. Thì ra mỗi người trong đoàn chúng tôi tuy mục đích chung là hành hương đến các thánh tích của Phật giáo, nhưng mỗi người một tâm niệm riêng. Người thì đang bệnh, đi để cầu nguyện chư Phật gia hộ độ trì. Người thì muốn đi tìm hình ảnh những tượng Phật cho một khu du lịch tâm linh. Một anh khác, chúng tôi gọi đùa là "chuyên gia bắt ma" vì anh nghiên cứu về phong thủy và đã từng giải quyết một số chuyện kỳ lạ có liên quan đến linh hồn. Có một cậu thanh niên nghiên cứu về Mật tông. Một phụ nữ giàu có từng chỉ thích ăn chơi mua sắm bỗng phát tâm từ bi làm việc thiện sau khi được diện kiến ngài Đạt Lai Lạt ma. Và cuối cùng có một người phụ nữ đặc biệt trong đoàn, là H, đi cùng chồng. Cô sống ở nước ngoài đã hơn 40 năm, vất vả cũng nhiều và thành công đã từng trải qua. Giữa lúc công việc đang phát triển, tiền vô như nước thì cô mắc bệnh nan y. Được bác sĩ khuyên nên buông bỏ hết vì cuộc sống của cô không còn bao lâu, chỉ trong vòng 1 năm nữa thôi. H dẹp đau buồn, sắp xếp mọi việc cho con cái, rồi lên đường đi đây đó hưởng những phút giây còn lại. H tìm đến Thiền và Yoga, cuối cùng nhờ niềm tin, từ đó đến nay H đã sống thêm được 16 năm và chiến thắng được cơn bệnh. Cô bây giờ hạnh phúc và vui vẻ, vẫn tiếp tục những chuyến đi dù đã đi hơn 55 quốc gia trên thế giới. Tâm nguyện của cô chia sẻ nếu còn có kiếp sau, cô sẽ xin nguyện là tín đồ Phật giáo.

Tịnh Xá Kỳ Viên (Jetavana) ở thành Xá Vệ (Savatthi).

Quãng đường khá cực nhọc nhất là từ Lucknow đi Shravasti sau hành trình xe lửa từ Agra đến Lucknow hơn 4 tiếng đồng hồ. Kế đó là con đường từ Sravasti qua cửa khẩu Nepal để đến Lâm Tỳ Ni. Con đường dài, đầy ổ voi chứ không phải ổ gà, nắng nóng và bụi mù mịt vì trên đường còn rất nhiều xây dựng dang dở. Xe chúng tôi bị nổ lốp mà tài xế lại không có bánh xe secours để thay. Ngồi chờ bên đường mấy tiếng đồng hồ, cũng nóng ruột vì đêm đang dần buông, chung quanh chỉ là đồng không mông quạnh, xa xa là rừng núi hoang vu. Có một nhóm thanh niên phóng vù vù trên những chiếc xe gắn máy cứ lượn tới lượn lui khi thấy thấp thoáng các "bóng hồng". Họ dừng xe lại và làm quen ... bắt tay, nói một tràng tiếng Ấn. Sau đó thì chào tạm biệt còn cả đoàn lại lên xe và ngồi dồn cả bên trái vì bánh xe vẫn chưa được vá. Cả đoàn lúc này chỉ biết lặng thinh và niệm Phật. Chiếc xe lết về khách sạn Pawan Palace ở Srhavasti là gần nửa đêm.
Qua sáng hôm sau, Anh Thy đã kịp đổi xe và tài xế khác và chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Đây là một trong những điểm đầu tiên của thánh tích, đó là thành Xá Vệ (Savatthi), kinh đô của nước Kiều Tát La (Kosala) do vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) cai trị vào khoảng thế kỷ 6 BCE ( trước Công nguyên).

Cây Bồ Đề cổ thụ ở Kỳ Viên tịnh xá, do tôn giả A Nan Đà (Ānanda) trồng.

Nơi đây có Tịnh Xá Kỳ Viên (Jetavana) mà trưởng lão Cấp Cô Độc (Anathapindika) đã mua của thái tử Kỳ Đà (Jeta) để làm nơi cư trú chính cho Đức Phật và các đệ tử. Phật và tăng đoàn đã trải qua 25 mùa an cư kiết hạ tại đây. Cách tịnh xá Kỳ Viên khoảng 5 km có một vườn xoài, đó là khu Đông viên Lộc Mẫu giảng đường (Pubbārāma Migāramātupāsāda), do nữ thí chủ Tỳ Xá Khư (Visakha) cúng dường.
Trước cổng tịnh xá Kỳ Viên có một cây Bồ Đề cổ thụ đến nay vẫn còn, do tôn giả A Nan Đà (Ānanda) trồng, chiết cành từ cội Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo.
Savatthi ngày nay nằm sát biên giới Nepal- Ấn Độ, thuộc quận Shravasti, bang Uttar Pradesh, cách Lucknow (thủ phủ của bang) 170km về phía bắc.

(Còn tiếp)
Tường thuật và hình ảnh: Dieu Tam Nguyen
Album ảnh: https://www.facebook.com/ngdieutam/media_set?set=a.1762028150527607.1073742297.100001613180918&type=3

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Thành cổ Varanasi và Bình minh trên sông Hằng



Chặng cuối trên hành trình 10 ngày hành hương Ấn Độ - Nepal, chúng tôi từ Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng), thành phố ở quận Gaya bang Bihar đến thành phố Varanasi thuộc bang Uttar Pradesh, một quãng đường khá xa.


Bình minh trên sông Hằng

Varanasi thuộc miền trung Ấn Độ, là một trong những nơi cổ kính và linh thiêng nhất xuyên suốt hàng ngàn năm của Ấn Độ giáo hay Hindu giáo nằm bên bờ sông Hằng, bang Uttar Pradesh. Đây cũng là một trong 4 thánh địa quan trọng của Phật giáo, với vườn Lộc Uyển Sarnath nơi Đức Phật Thích Ca thuyết bài Pháp đầu tiên sau khi thành đạo. Varanasi thường được gọi là "thành phố của các đền đài", "thành phố thánh của Ấn Độ", "thành phố ánh sáng", "thành phố học vấn" và cũng được gọi là "thủ đô văn hóa của Ấn Độ".


Thành phố cổ Varanasi bên bờ sông Hằng.

Thành cổ Varanasi là nơi có nền văn hóa liên hệ sâu sắc với sông Hằng linh thiêng, một thành phố lịch sử lớn nhất bên bờ sông Hằng. Tương truyền, 6.000 năm trước, thần Shiva - vị thần thứ ba trong ba vị thần lớn nhất của Hindu giáo đã lập ra và trú ngụ ở thành phố Varanasi, bất cứ người nào chết ở đây đều đến được với thần Shiva, cho dù họ mang nặng nghiệp (karma) xấu thế nào.
Ớ Ấn Độ, phần lớn tín đồ đạo Hindu cả đời có 4 lạc thú: Kính thờ thần Shiva; đến sông Hằng tắm nước thánh và uống nước ở đây; kết bạn với thánh nhân; cư trú ở thánh địa Varanasi.


Tín đồ đạo Hindu đến sông Hằng tắm nước thánh.

Sông Hằng bắt nguồn từ chân núi phía Nam dãy núi Himalaya, dài 2.580 km. Đó là con sông dài nhất, diện tích lưu vực rộng nhất ở Nam Á. Sau khi chảy vào Ấn Độ, sông Hằng hoà vào sông Araknanda và vẫn mang tên sông Hằng. Người Ấn Độ gọi sông Hằng là sông Thánh, coi sông Hằng là hoá thân của nữ thần Ganga, vợ của thần Shiva. Vì vậy, họ rất kính trọng sông Hằng. Hằng năm Varanasi đón từ 2 đến 3 triệu người hành hương đến lễ thần Shiva và tắm rửa nước thánh trên sông Hằng.
Sáng sớm mỗi ngày, hàng nghìn hàng vạn tín đồ đạo Hindu từ khắp nơi trong nước đến bên bờ sông Hằng để tắm nhằm siêu thoát bụi trần, hy vọng sau này có thể đến thế giới cực lạc. Hai bờ sông hình lưỡi liềm trong thành phố Varanasi có tới 64 bến tắm xây thành bậc (ghat) để phục vụ lễ tắm rửa.


Thành phố cổ Varanasi, bang Uttar Pradesh, India,

Thành phố Varanasi hiện nay vẫn giữ được hơn 2.000 ngôi đền lớn nhỏ, phong cách kiến trúc đền miếu ở đây đa dạng, biểu hiện sắc thái tôn giáo đậm đà. Trong đó, có ngôi đền Hồi giáo xây từ thời vương triều Mughal (1526 - 1857) .
Hàng năm, ở thành phố Varanasi có tới hơn 400 lễ hội tôn giáo. Hoạt động lễ hội tôn giáo hầu như diễn ra trong các đền thờ. Trong chuyến hành hương đi qua nhiều tỉnh tôi đã thấy nhiều lễ hội diễn ra, tín đồ Hindu giáo ăn mặc màu sắc rực rỡ hớn hở đi từng đoàn đến đền thờ. Và ngày chúng tôi đến Varanasi cũng nhằm vào dịp lễ thần Shiva, và Tết của người Hindu kéo dài trong suốt tháng 3.


Varanasi và lễ hội thần Shiva vào đầu tháng ba hàng năm.

Lưu lại một đêm tại khách sạn The Amayaa ở Varanasi, sáng sớm hôm sau, chúng tôi thức dậy từ 4 giờ sáng để chuẩn bị ra sông Hằng chờ đón bình minh. Từ lâu đã nghe nói đến sông Hằng linh thiêng, nay được đặt chân đến thánh địa này ai cũng nôn nóng muốn biết. 5 giờ sáng, trời vẫn còn tối lắm. Chúng tôi xuống xe đi bộ trên một quãng đường dài chừng 1 km. Thấp thoáng dưới những ánh đèn leo lét từ một vài hàng quán mở sớm, có những nhóm thanh niên đang tụ tập chuyện trò, đàn ông túm tụm trong một vài quán nhỏ. Tôi nhìn thấy rất nhiều người vô gia cư đang nằm ngủ dưới mái hiên của dãy nhà phố hai bên đường. Có nhiều con bò cũng chui vào mái hiên trú ngụ. Vài đốm lửa đang cháy giữa đường, có nơi bên cạnh đống tro tàn còn ấm, một ông lão đang nằm co quắp thiêm thiếp ngủ. Đêm bên sông Hằng mùa này trời vẫn còn giá lạnh. Tôi nghe nói nhiều người vô gia cư trú ngụ ngoài đường, dưới mái hiên nhà các hàng quán dọc đường có khi ngủ luôn không bao giờ thức dậy, đến sáng chủ nhà mở cửa mới phát hiện.

Varanasi.

Đi hết con đường phố thị như nêm cứng người và xe thì đến bờ sông Hằng. Một quang cảnh lạ kỳ diễn ra trước mắt tôi. Tuy trời vẫn còn sớm nhưng bên bờ sông khá đông người, những hàng bán hoa, đồ vật cúng nhộn nhịp, thuyền bè đậu san sát và dọc theo dòng sông phía trên đồi cao là những ngôi đền cổ nguy nga kỳ bí ẩn hiện sau màn sương chưa tan. Đó đây trên những bậc đá có những đám lửa đang ngùn ngụt cháy, và mùi khét của tử thi đang trong quá trình thiêu hủy cháy lan trong gió. Theo tập tục, người Hindu giáo khi qua đời sẽ được thiêu hủy xác phàm để trở thành thánh nhân, thi thể của họ sẽ được các tín đồ đặt lên vòng hoa, buộc đá thả xuống sông Hằng. Đó là điểm cuối cùng của con đường đau khổ trong cuộc đời. Người ngoại đạo có thể thấy bi thương nhưng với tín đồ Hindu là sự chúc mừng giải thoát. Vì vậy khi tổ chức tang lễ, thiêu xác, chỉ có đàn ông có mặt còn phụ nữ không được phép đến gần sợ khóc lóc đau thương.

Một góc thành cổ Varanasi.

Chúng tôi bước lên một con thuyền. Khi thuyền chèo ra giữa sông, trưởng đoàn đưa cho chúng tôi mỗi người một cây nhang và một ngọn đèn hoa đăng thả xuống dòng nước rồi đọc chú vãng sinh cầu nguyện cho các linh hồn. Có những chiếc thuyền nhỏ bơi theo bán cá phóng sinh, nhang đèn cúng bái. Còn sớm nên thuyền dành cho khách du lịch chưa nhiều, trên sông chỉ có từng đàn chim biển bay theo tàu. Và mặt trời bắt đầu l ó dạng từ phía chân trời đằng đông. Bình minh với những tia nắng đầu ngày trên sông Hằng tuyệt đẹp.


Bình minh trên sông Hằng.

Khi thuyền chúng tôi quay vào bờ, trời dần sáng. Trên bờ lúc này rất đông người từ các nơi đổ về. Bên bến sông rất nhiều người đang chen nhau tắm nước thiêng. Các đoàn khách hành hương càng lúc càng đông theo nhau xuống thuyền. Trên các bậc đá có những cột lớn vẽ hình ảnh thần Shiva, người bu đông kịt. Tiếng trống thì thùng, đàn ca réo rắt vang lên khắp nơi. Chúng tôi vội vã rời sông Hằng để kịp tham quan vườn Lộc Uyển Sarnath sau đó đi thẳng ra sân bay Varanasi về New Delhi.



Trời đã sáng, lễ hội thần Shiva đã bắt đầu. Từng đoàn tín đồ Hindu áo quần đầy màu sắc nối đuôi nhau đi đến các đền thờ. Họ bôi trét bột đủ màu xanh đỏ lên mặt mũi, đầu, tóc của mình và sẵn sàng tạt bột màu lên bất kỳ người nào, du khách nào đi ngang qua.
Một ngày mới lại bắt đầu ở thành cổ Varanasi.

Tháng 3- 2018
Ghi chép và hình ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
Xem thêm:
https://www.facebook.com/ngdieutam/media_set?set=a.1750259075037848.1073742292.100001613180918&type=3
 

Hành hương Ấn Độ - Nepal mùa Xuân 2018


Trong hành trình đi Ấn Độ & Nepal 10 ngày, vì chủ yếu các thánh tích nằm ở bang Uttar Pradesh, bang Bihar và một phần Nepal nên đoàn chúng tôi đi Malaysia Airlines bay từ Tp HCM đi Kuala Lumpur, rồi từ đây chuyển máy bay đi qua New Delhi, thủ đô của Ấn Độ.
Để dễ hình dung, bạn có thể xem bản đồ các thánh tích đính kèm trong album này. Theo đường thẳng trên bản đồ, Kushinaga ở vị trí trung tâm các thánh tích, cách Lumbini khoảng 100km, cách Vaishali 150km, cách Sarnath 200km, cách Bodhigaya 300km, cách Sankasya khoảng 400km.



Ngày 2 và 3: Từ New Delhi, sau khi tham quan India Gate, chúng tôi đi Agra tham quan pháo đàiAgra Fort, đền thờ Taj Mahal. Sau đó đi Lucknow bằng xe lửa, rồi chuyển qua xe bus đi Sravasti, nhập cảnh Nepal, đến Lumbini (Lâm Tỳ Ni). Lumbini nay là quận Rupandehi thuộc nước Nepal nằm cách biên giới với Ấn Độ khoảng 36 km.

Pháo đài Agra Fort.

Đền Taj Mahal, Agra, India.

Ngày 4: Tham quan thành Xá Vệ (Savatthi) Saheth Mahet, kinh đô của nước Kiều Tát La ( Kosala), do vua Ba Tư Nặc trị vì. Savatthi ngày nay nằm sát biên giới Nepal- Ấn Độ, thuộc quận Shravasti, bang Uttar Pradesh, cách Lucknow (thủ phủ của bang) 170km về phía bắc. Thăm Kỳ Viên tịnh xá (Jetvana Vihar), nơi trưởng lão Cấp Cô Độc đã mua của thái tử Kỳ Đà (Jeta) để làm nơi cư trú chính cho Đức Phật và các đệ tử trải qua 25 mùa an cư kiết hạ tại đây Thăm Bảo tháp của trưởng giá Cấp Cô Độc và động tu của tôn giả Vô Não. Sau đó khởi hành đi Lumbini, nơi đức Phật đản sinh, cách 190 km.

Kỳ Viên tịnh xá (Jetvana Vihar), bang Vihar, India.

Ngày 5: Lumbini- Kushinagar (Câu Thi Na). Tham quan vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sinh. Xuất cảnh khỏi Nepal, trở về Ấn Độ, lưu lại Kushinagar.

Mayadevi temple, đền thờ Hoàng hậu Ma da trong vườn Lâm Tỳ Ni, Nepal.

Ngày 6: Kushinagar- Vaishali- Patna:
Đến Kushinagar, ngày xưa là kinh đô hưng thịnh của Chuyển Luân Thánh vương, tiền thân của đức Phật, nay chỉ là một quận nhỏ thuộc bang Uttar Pradesh. Làm lễ chiêm bái trước tượng Phật nhập Niết bàn tại chùa Mahaparinirvana (Đại Niết Bàn), tháp Ramabhar - nơi tưởng niệm Trà tỳ kim thân đức Phật. Tiếp tục đi đến Vaishali (Tỳ xá Li), kinh đô của bộ tộc Licchavi, là bối cảnh của Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, nơi đây Phật từng có lần làm phép tẩy trừ dịch bệnh cho dân chúng, cũng là nơi thành lập đoàn thể Tỳ Kheo Ni, đây là nơi kết tập kinh điển lần thứ hai, là nơi Phật cư trú và hoạt động vào những năm cuối đời. Tham quan trụ đá Vua A Dục, Bảo tháp Xá lợi Phật trên đường đi Patna, thủ phủ của bang Bihar.

Mahaparinirvana (Đại Niết Bàn), Kushinagar, nơi đức Phật nhập Niết bàn.

Ngày 7: Patna - Nalanda - Rajgir -Bodhgaya: Viếng trường đại học Phật giáo đầu tiên trên thế giới ở Nalanda, tháp Hòa Bình Vishawa Shanti, chùa Nhật Bản Venuvaha Vihar ở Rajgir. Tiếp tục lên núi Griddhakuta (núi Linh Thứu), nơi đức Phật giảng kinh Pháp Hoa. Thăm vườn Xoài của danh y Kỳ Bà. Đi tiếp đến Bodhgaya.

Đại học Nalanda, Rajgir, bang Vihat, India.

Ngày 8: Bodhgaya - Varanasi: Tham quan Bồ Đề Đạo tràng, một trong những đền thờ linh thiêng, quan trọng nhất của đạo Phật. Nơi đây vào khoảng năm 500 TCN, đức Phật đã đắc đạo sau khi ngồi thiền 49 ngày dưới một gốc cây Bồ đề bên bờ sông Ni Liên Thiền. Ngày nay thuộc quận Gaya, bang Bihar, Ấn Độ. Cúng dâng hương tại đền Mahabodhi. Thăm nhà nàng Sujata, người đã dâng bát cháo sữa cho đức Phật.
Đi tiếp đến Varanasi, cách Bodhgaya khoảng 250 km.

Đền Mahabodhi, Bồ Đề đạo tràng, Bodhgaya, Uttar Pradesh, India.

Ngày 9: Varanasi: Đón bình minh trên sông Hằng linh thiêng. Tham quan vườn Lộc Uyển (Sarnath) nơi đức Phật giảng bài kinh đầu tiên cho 5 anh em Kiều trần Như vào năm 590 TCN sau khi đắc đạo. Kinh gọi là chuyển pháp luân. Nơi đây còn có trụ đá Vua A Dục, Bảo tháp Dhammek, Chaukhandi.

Bên sông Hằng, Varanasi.

Ngày 10: Từ Varanasi trở về Kuala Lumpur - Tp HCM.
Xem thêm:
* Hành hương Phật tích tại Ấn Độ & Nepal:
https://www.facebook.com/ngdieutam/media_set?set=a.1725492410847848.1073742285.100001613180918&type=3

Tháng Giêng xuân Mậu Tuất 2018.
Nguyễn Diệu Tâm ghi chép và tổng hợp.
Hình ảnh: Nguyễn Diệu Tâm