Mẹ kể, ngày còn nhỏ, mẹ xa nhà lên Đà Lạt sống cùng dì Tùng. Ngoài giờ làm việc nhà phụ với dì, mẹ được dì cho đi học trường bà xơ ở Đà Lạt cho biết chữ. Mẹ cũng được học thêu thùa, đan, may. Mẹ khoe mãi chuyện được gặp bà hoàng hậu Nam Phương lúc bà đến thăm trường. Mẹ ngoan, xinh đẹp và học giỏi nên được các bà xơ cho ra đón hoàng hậu. Lúc đó, bà hoàng đưa tay xoa đầu mẹ và khen "con bé trắng trẻo xinh xắn quá"! Vinh dự ấy đi theo mẹ suốt cuộc đời, rằng có lần mẹ đã được gặp một bà hoàng hậu thật sự.
Ở Đà Lạt, hình như người phụ nữ nào cũng biết đan. Hai que đan cứ thoăn thoắt thoăn thoắt và cuộn len cứ mỏng dần, mỏng dần và chiếc áo len thành hình. Từ lúc còn thơ tôi đã để ý đến cuộn len và hai que đan của mẹ. Ngày ấy hai que đan làm bằng tre, về sau thay bằng hai que sắt, có màu, giúp sợi len trơn hơn, dễ đan hơn. Đêm đêm nằm trong giường tôi thích nghe âm thanh lách tách của hai que đan chạm vào nhau. Hé mắt hí hí nhìn, dáng mẹ ngồi yên lặng dưới ánh đèn chăm chú đan chiếc áo cho con. Con đông, mẹ cứ phải đan hoài. Hết áo len tay ngắn mặc mùa thu thì đến áo len tay dài mặc mùa đông. Rồi đến khăn quàng, vớ, mũ... Tôi thích những chiếc áo len mẹ đan cho mình, mặc vào được khen áo đẹp, tôi sung sướng lắm.
Tôi bắt chước mẹ đan áo cho búp bê. Tôi cũng có 2 que đan nhỏ xíu vừa với bàn tay nhỏ bé của mình. Mùa đông ở Huế rất lạnh, búp bê của tôi có áo len mặc. Được mẹ đan cho áo len kiểu nào thì búp bê của tôi có ngay chiếc áo kiểu đó. Tôi cũng đắp cho búp bê một cái khăn thay chăn, để nó ngủ cho ấm, giống hệt như mẹ đã lo cho tôi.
Ngoài áo len, mẹ còn may quần áo cho chị em chúng tôi. Tôi và em gái kế được mẹ may áo đầm giống nhau, mặc để người ta biết đó là 2 chị em. Lớn hơn một chút, tôi lại bắt chước mẹ may áo. Không biết đo theo người, tôi bỏ chiếc áo có sẵn lên vải, rồi cắt theo chiếc áo ấy, xong vào máy may tập may. Nhiều lần bị kim may đâm vào ngón chảy máu, có lần kim gãy đâm xuyên qua ngón tay, tôi cắn răng chịu đau, tìm cách rút đầu kim ra, máu chảy nhiều, dấu không cho mẹ biết sợ mẹ rầy không cho nghịch máy may nữa.
Năm học lớp 7 trường NTH Qui nhơn, tôi được học nữ công với cô giáo Thái Nhĩ. Cô thật là một người khéo léo, hiền từ và yêu thương học trò. Tôi rất thích giờ học với cô. Suốt từ năm lớp 7 đến lớp 12, chúng tôi được cô dạy rất nhiều bài thêu, đan, may. Từ các bài thêu rua, thêu chữ thập (cross stitch), mũi đột, thêu mũi cành cây, mũi quấn bọ (bullion stitch), thêu nổi, smock, v.v.. đến cách làm khuy nút, may mũ em bé, may áo v.v. Bài nào tôi cũng làm chăm chỉ và được cô cho điểm cao. Nhiều năm tháng trôi qua, tôi chẳng còn giữ được vật kỷ niệm nào từ những bài thêu may nữ công ngày ấy, ngoại trừ một chiếc khăn bằng vải tétoron, có thêu áp vải một đàn chim đang vui đùa ca hát cô cho làm năm lớp 9 thì phải. Không hiểu lý do vì sao chiếc khăn này đi theo tôi mãi đến ngày nay dù tôi đã trải qua nhiều lần dời đổi chỗ ở, và dù chiếc khăn đã ngả màu.
Bài thêu năm lớp 9, tổng hợp các mũi đột, quấn bọ, áp vải, may lộn mép khăn.
Khi lớn lên, tôi bắt đầu biết để ý đến ăn mặc như thế nào cho phù hợp theo tông màu, áo mặc sao cho đẹp, quần sao cho thẳng. Tôi cho rằng bộ quần áo đẹp là do cái "coupe", cho dù đối với kiểu nào, loại vải nào. Đi may rất nhiều tiệm may được giới thiệu, chẳng bao giờ tôi vừa ý. Những năm học đại học, gần nhà tôi có một chị thợ may khéo. Tôi gạ chị dạy cho tôi cách cắt đo theo người. Vậy là chị dạy cho tôi trong vòng một tuần lễ một số bài căn bản may áo sơ mi, quần tây, áo xẩm, áo tay raglan v.v.. trên giấy. Sau đó tôi tự cắt trên vải và may lấy. Dần dần từ những bài căn bản, tôi biến chế sang áo kiểu, áo đầm dạ hội và cả áo bà ba, áo dài. Có nhiều thợ may khi được học may áo sơ mi, quần tây thì họ cứ thế mà làm, khách hàng đưa may áo sơ mi có chút xíu kiểu cọ, họ cũng không chịu may. Khi thấy như thế, tôi thắc mắc thầm nghĩ "Tại sao? Vì họ may đông khách quá nên không cần vì ngại có thêm một chút kiểu vào sẽ mất công hơn? Hay tại không thích tìm hiểu hơn nữa trong nghề?". Với tôi, tôi chỉ từ chối những kiểu nào tôi chưa học đến, thí dụ veston và quần tây nam, chứ kiểu nào của phụ nữ tôi cũng "vọc " qua cả, từ đọc thêm tài liệu, học lóm các thợ may khác, hoặc tự ngồi suy nghĩ vẽ ra trên giấy, thậm chí may thử trên một miếng vải nào đó, miễn sao làm được thôi.
Áo len Đà Lạt ( Ảnh: Google )
Tôi may áo quần cho các em, cho cả nhà. Chị tôi lúc đó đang bán vải ở Tân Định, đem về vải dư cho tôi may áo trẻ con, chị treo bán khá chạy, chị bảo tôi "mát tay". Một ngày, em gái đang học ở ĐH Nông Lâm Thủ Đức về nhà nói "Bạn em khen em mặc đồ đẹp, tụi nó nói chị có nhận may không thì chỉ em cách đo, em đem vải về cho chị may". À, cũng hay đấy chứ, vì tôi có thể kiếm thêm tiền chợ cho mẹ. Vậy là trở thành thợ may mà thợ không được gặp khách! - Có ai "gan" như tôi không nhỉ? Cũng may là rất ít khi bị khách phàn nàn, dĩ nhiên cũng có vài lần phải sửa, nới rộng ra hoặc phải may bóp vào. Khoản này tôi nghi ngờ em gái tôi đo không đúng chính xác kích thước của khách, bởi vì nó .. không biết may! Kế tiếp khách hàng là bạn bè, là hàng xóm trong khu chung cư nhà tôi đang sống. Sau này khi tôi đã bỏ nghề may, một trong những khách hàng xóm có một cô bé ra mở tiệm may áo thời trang cũng khá có tiếng, gặp lại cô hỏi "Sao chị bỏ nghề may uổng vậy? Đã hơn mười mấy năm qua, em vẫn còn nhớ lúc đó chị may cho em mấy cái áo kiểu thật là xinh, em còn thích đến bây giờ".
Rồi tôi mở tiệm dạy thêu may. Em gái tôi dạy thêu, tôi dạy may. Lớp học cũng khá đông học trò. Được 2 năm, em gái tôi đi Úc. Buồn quá, tôi dẹp luôn lớp học, rồi theo chồng về xứ lạ.
Cái xứ lạ này ở tận ngoài đảo biển. Lúc mới đến, chúng tôi được ông ngoại chồng cho ở trong một căn nhà cổ ba gian. Ngoài vườn bên phải có một cây lê-ki-ma lớn đến mùa trái mọc sum xuê. Phía bên trái là một cái giếng cả xóm cùng dùng chung để giặt giũ, tắm rửa. Cách nhà vài chục mét là con sông nhỏ đổ ra biển. Leo lên cửa sổ nhìn ra xa xa thấy biển xanh và gió đưa mùi nước mặn vào cùng mùi tanh tanh của rêu biển.
Đảo ngọc Phú Quốc ( Ảnh: Google )
Ở chơi khoảng một tuần, tôi bắt đầu thấy buồn chân buồn tay vì không được làm việc. Một bà dì chồng gợi ý: "Con rảnh, dì cho con mượn máy may mà may đồ kiếm tiền nuôi con"! Nghĩ thấy cũng được, tôi mượn dì cái máy may. Chưa phải quảng cáo, các bà dì và con cháu bên chồng đem vải đến tới tấp. Ông ngoại có 2 bà vợ chính thức - chưa kể một vài bà ngoài luồng -.. các dì cậu tổng cộng đến thứ mười mấy. Các dì cậu đều đông con. Vì vậy những khách hàng đầu tiên của tôi đều là bà con. Một đồn năm, năm đồn mười, chẳng bao lâu gần như cả huyện đều biết đến "thợ may Sài gòn". Ở các tỉnh xa, dường như cái tên Sài gòn nghe oách lắm. Đó là những gì thuộc về văn minh, học thức, tiến bộ, giống như ở Sài gòn người ta hay nói về "bên Tây, bên Mỹ" vậy. Đã vậy tôi còn ngồi vẽ tay một cuốn "ca ta lô" gần 200 kiểu vì mỗi lần khách đến thường hỏi "Chị có kiểu gì mới không?" Tả miệng riết rồi mệt quá, tôi phải nghĩ ra cách vẽ catalog. Những năm đầu 80 kiếm đâu ra catalog thời trang, ngoài những cuốn có từ thời trước 1975, đã cũ và rách nát mà tìm cũng không ra! "Danh tiếng" tôi càng nổi vì có "ca ta lô". Tôi may từ áo bà ba, sơ mi, áo kiểu đến cả áo dài, đầm dạ hội, áo cưới, làm luôn việc kết bông hoa vào áo. Ban đầu sợ nhất là may áo bà ba tay raglan. Ở quê thợ may rất chuyên nghiệp may áo bà ba. Nhìn cái áo cổ viền nhỏ, thật mảnh với đường chỉ rất sát, tôi phục lăn. Thế nhưng người ta lại đồn tôi may cái "cúp" rất trẻ. Bí quyết chẳng có gì, chỉ là đường hạ eo tôi cho lên cao hơn bình thường, áo ôm trong khi thợ ở quê thường hạ eo dài, áo rộng. Vậy là các cô, bà lớn tuổi rất thích đến tôi may áo vì mặc vào "trông trẻ hơn gần .. chục tuổi". Đó là họ nói vậy! Còn tôi thì chỉ nghĩ đến cái đẹp. Rằng nếu khách hàng mặc một chiếc áo vào, nếu không đẹp, người thợ may phải tự suy nghĩ cái gì làm cho chiếc áo không đẹp, khắc phục được không, bằng cách nào? Thêm nữa, nếu người thợ may có thể tư vấn khách hàng nên chọn loại vải nào, kiểu áo nào cho phù hợp, đẹp thì càng tốt. Cũng có nhiều lúc khách hàng cứ khăng khăng chọn cái họ thích, dù không hợp, thì đành chịu thôi!
Ngày tôi nhận hai học trò học may đầu tiên ở cái đảo biển này, một sự cố xảy ra làm tôi choáng váng. Đó là việc đổi tiền bất ngờ ngay ngày hôm sau khi học trò vừa đóng tiền học cho tôi. Là khách vãng lai, tôi chỉ được phép đổi ít tiền. Tôi nhờ ông xã đi đổi, nhưng cũng chỉ đổi được một ít. Vậy là coi như tôi mất số tiền ấy. Đành dạy không công cho hai cô học trò đến 3 tháng.
Không lâu sau, tôi nhận được thư mời họp của xã. Phân vân không biết có nên đi, thắc mắc tại sao xã lại mời mình... Cuối cùng mới vỡ lẽ. Đến nơi họp có rất đông thợ may trong xã. Họ nhìn tôi với cặp mắt săm soi. Hóa ra tôi bị thợ may trong xã .. kiện, vì .. lấy khách của họ! Cuối cùng, xã cấm không cho tôi hành nghề, lý do .. tôi không phải người thường trú tại địa phương. Dù ông xã tôi thường trú ở đó, lại làm hiệu trưởng trường phổ thông cấp 3 duy nhất ở đó, tôi vẫn bị "áp lực" của thợ may địa phương là không được hành nghề.
Rồi một ngày, Phòng Giáo dục huyện đến gặp tôi đề nghị xây một trường dạy nghề để tôi làm hiệu trưởng. Tôi nói để suy nghĩ. Nhưng sau đó tôi đã từ chối và bỏ về Sài gòn. May mắn cho tôi là ở Sài gòn sau đó tôi đã có công việc tử tế và vô cùng yêu thích, đó là vẽ tranh tại một công ty sơn mài lớn của thành phố. Công việc lên như diều đến nỗi tôi không còn thì giờ nhận may thêm tại nhà vào buổi tối. Cứ như thế, hàng năm thay vì cúng tổ thợ may vào ngày 12 tháng chạp thì tôi lại cúng tổ sơn mài vào ngày 20 tháng chạp. Mỗi năm có 2 lần cúng tổ sơn mài, vào tháng sáu và tháng chạp AL.
Tôi hoạt động trong lĩnh vực này khá lâu, khoảng 12 năm thì chuyển qua phụ trách Phòng tranh của công ty vào năm 1995. Ba năm sau, lại có nhiều thay đổi buộc tôi phải rời nghề.
Áo cưới may cho em gái năm 1993 (Sydney)
Một ngày đẹp trời, tôi tiếp một đoàn khách 2 người Việt Nam và 2 người Pháp đến tham quan cửa hàng công ty, lúc đó tôi đang làm Trợ lý GĐ phụ trách về Mỹ Thuật. Người phụ nữ trong đoàn tự giới thiệu là Tổng GĐ của một công ty thời trang vốn đầu tư 100% của Pháp. Khi tham quan đã xong, bà nói với tôi bà đang cần một Trợ lý TGĐ Kinh Doanh và tôi có thể gặp bà vào ngày mai hay không? Vô cùng ngạc nhiên, tôi trả lời với bà rằng tôi có thể không phù hợp, vì tôi chỉ chuyên về "thủ công mỹ nghệ", không có kiến thức và kinh nghiệm ở lĩnh vực "công nghiệp". Bà chỉ đưa danh thiếp cho tôi và bảo tôi cứ đến, sẽ trao đổi thêm sau.
Đó là một phụ nữ nhỏ nhắn, xinh đẹp, học thức. Bà nói tiếng Pháp như gió. Sau này tôi biết thêm bà đàn piano rất hay, đã từng đoạt giải piano và là giáo viên dạy đàn. Đó là một trong những phụ nữ mà tôi rất ngưỡng mộ và kính trọng.
Suy nghĩ cả đêm dài, sáng hôm sau tôi tìm đến công ty ấy, không cầm hồ sơ vì nghĩ chỉ đến "thử xem sao". Bà niềm nở tiếp đón tôi và nói chuyện rất lâu, gần 3 tiếng đồng hồ. Bà không cần phỏng vấn, không cần xem bằng cấp, không cần hỏi tôi biết làm những công việc gì? Trong phòng làm việc có nhiều giá kệ treo sản phẩm rất đẹp. Đó là mặt hàng may mặc thời trang, chuyên về lingerie ( áo ngủ và nội y ), thiết kế của Pháp, vải phụ liệu nhập, thợ Việt Nam may và gia công. Hàng may và xuất đi Pháp là chính. Có một điều gì đó làm tôi cũng thích thú, vì sản phẩm đẹp, tinh tế, sang trọng. Nhưng lúc đó tôi thấy mình chẳng có chút xíu kinh nghiệm nào trong công việc này, mà theo bà, tôi sẽ làm trợ lý cho bà và phụ trách mảng Kinh doanh - Phát triển các thị trường khác ngoài Pháp. Tôi nói với bà "Thưa chị, em không có kiến thức về mảng này chị ạ". Tưởng bà thất vọng, ngờ đâu bà chỉ mỉm cười: "Em sẽ được đào tạo. Chị nghĩ em cần có thời gian bàn giao ở công ty cũ. Em có thể suy nghĩ thêm. Chị cho thời hạn 01 tháng. Nếu có thể sớm hơn chỉ cần em gọi điện thoại báo tin cho chị biết."
Tôi trở về hơi choáng váng vì đề nghị bất ngờ này. Thời điểm đó công ty cũ tôi đang làm việc đã thay đổi rất nhiều trước đó 2 năm. Hàng trăm công nhân viên phải nghỉ việc. Chúng tôi cũng phải bỏ đi và tạm trú tại một công ty mới, tuy cùng ngành nhưng không nhiều gắn bó vì cơ cấu, chính sách khác hẳn trước. Tôi được phân công không mấy phù hợp và tôi đang nghĩ đến chuyện bỏ nghề nhưng chưa biết sẽ làm gì. Vào tuổi của tôi năm ấy thật không dễ đi xin việc ở một công ty mới. Vậy đây có vẻ là một cơ hội tốt. Hỏi ý gia đình và bạn bè, nhiều người khuyên không nên đổi nghề lúc đã lớn tuổi như thế này, vì bắt đầu một công việc mới sẽ đối đầu với rất nhiều khó khăn. Tôi biết rất rõ điều đó, nhưng trong hoàn cảnh tôi lúc ấy, tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải thay đổi công việc. Trong vòng một tháng thật là nhiều việc phải làm để bàn giao, cuối cùng tôi quyết định đi qua công ty thời trang ấy nhận việc.
Những ngày đầu tiên với công việc mới thật vất vả. Vừa phải tìm hiểu công việc vừa phải cấp tốc đi học các lớp học buổi tối về computer, ngoại ngữ, kinh tế thương mại , xuất nhập khẩu v.v.. Tôi ngồi chung với Phòng Kinh Doanh & Tiếp thị của công ty. Đó là một công ty lớn với nhiều phòng ban. Nhân viên hành chánh hơn 400 người. Khâu sản xuất hơn 2.000 công nhân may. Riêng phòng Kinh Doanh của chúng tôi có hơn 40 người, kể cả các em trong đội ngũ Bán lẻ. Lúc đó, các cửa hàng trên toàn quốc của công ty có hơn chừng 10 cửa hàng và 100 đại lý. Phòng Kinh Doanh chúng tôi luôn bận rộn, tất bật liên hệ khách hàng, giao hàng, kiểm tra đại lý, thanh toán v.v... Các phòng ban tôi liên hệ nhiều nhất là Phòng Thiết kế tạo mẫu (Modelism), Phòng Kế hoạch, Phòng Mua và Kho hàng. Giám đốc Thiết kế là một cô người Pháp, rất giỏi. Chính cô là người thiết kế cho các cửa hàng, sản phẩm mới cho thị trường nội địa. Tuy mẫu mã rất đẹp, nhưng về sau chúng tôi phát hiện việc nghiên cứu thị trường Việt Nam của cô có nhiều thiếu sót. Tuy chúng tôi tổ chức họp liên tục để điều chỉnh, nhưng có nhiều vấn đề đã xảy ra và khá muộn màng để khắc phục. Vậy là Phòng Kinh doanh cứ phải ôm đầu giải quyết vấn đề tồn kho.
Tôi nhập vào công việc lúc nào không hay. Tôi phải theo dõi và giải quyết tồn kho thành phẩm và tồn kho nguyên phụ liệu, vừa phải tiếp khách hàng các thị trường khác ngoài Pháp, vừa phải tự tìm hiểu, nghiên cứu những ưu và khuyết điểm của chất liệu sử dụng và sản phẩm công ty, đồng thời cũng nghiên cứu các sản phẩm của "đối thủ" cạnh tranh trong cùng thị trường.
Trong may mặc công nghiệp, khi muốn ra một mẫu mới, phải đặt mua vải theo số lượng tối thiểu (MOQ) trên 1.000 m mỗi màu, các nguyên phụ liệu khác như nút, thun (elastic), ren (lace), phải trên 20.000 m một màu. Có khi tìm màu đồng nhất cho nguyên bộ đồ không có, phải nhuộm màu. Vì vậy, nếu may không hết vải và nguyên phụ liệu, thì tồn kho nguyên liệu cứ dần dần nhiều lên. Hàng thành phẩm không bán được, sẽ nằm trong kho tồn thành phẩm.
Ren Pháp
Hơn một năm sau, cô giám đốc thiết kế người Pháp nghỉ việc về nước. Lúc này chúng tôi rất bối rối vì chưa có nhà thiết kế mới, không có hàng mới cung cấp cho các đại lý. Cái khó của thời trang là phải luôn thay đổi theo mùa. Một năm có bốn mùa thì nhà cung cấp phải liên tục đổi vải, đổi kiểu. Mùa xuân vải mềm, nhẹ, hoa tiết vui tươi, kiểu dáng thanh nhã thì mùa hạ vải mỏng hơn, hoa tiết vui mắt, màu sắc rực rỡ như nắng hè miền nhiệt đới, kiểu dáng "cởi mở". Mùa thu vải dày hơn, hoa tiết lãng mạn, nhẹ nhàng và mùa đông vải dày, màu sẫm, kiểu dáng kín đáo v.v. Cứ bán không hết trong mùa là phải sale off để ra mắt bộ sưu tập mới.
Tôi rất thích các kiểu từ Pháp gửi về. Được làm việc cùng các chuyên gia Pháp về lĩnh vực may mặc thật thú vị. Tôi biết được các thông số, định mức, khuôn rập, các chi tiết để lên một sản phẩm may mặc theo công nghiệp. Có lẽ nhờ biết may, tôi tiếp thu những điều này rất nhanh. Nhờ vậy mỗi lần làm việc với phòng may và tạo mẫu, tôi làm rất dễ dàng, có khi còn hướng dẫn lại cho thợ cách may một kiểu mới nữa.
Rồi rất bỗng dưng, tôi kiêm luôn công việc tạo mẫu. Thấy các em phòng Kinh doanh cứ than thở không có mẫu mới, đại lý không chịu lấy thêm hàng cũ để bán. Doanh thu giảm, các em ngồi rưng rưng nước mắt vì bị trưởng phòng "dập". Mà nào phải đâu tội do các em. Tôi hiểu lý do vì sao. Có giỏi ba đầu sáu tay cũng không dễ giải quyết sạch hết hàng tồn, dù đã giảm giá. Nhìn thấy những giọt nước mắt ngắn dài đó, tôi chịu không nổi. Vậy là một buổi sáng tôi vào kho hàng tồn nguyên và phụ liệu lấy tất cả mẫu vải, ren tồn kho cùng số lượng tồn của từng loại. Sau đó tôi phân loại ra, số lượng nào còn tồn nhiều sẽ giải quyết trước. Rồi tôi bắt đầu vẽ kiểu, áp từng loại vải ren vào xem có phù hợp không. Vẽ chừng 20 kiểu, tôi đem đến Phòng Tạo mẫu nhờ thợ may ra mẫu. Xong mẫu, bộ phận Tiếp thị đem đi chào hàng các đại lý lấy đơn hàng về. Tổng hợp đơn hàng, tôi gửi phòng Sản xuất. Hàng ra, Phòng Kinh doanh đi giao cho các đại lý. Trong tháng đầu tiên, doanh số tăng vọt. Chúng tôi nắm được kiểu nào bán chạy, lấy thêm đơn hàng sản xuất tiếp. Các em phòng Kinh doanh mừng quá cứ tíu tít nghe điện thoại, xuống kho lấy thêm hàng đi giao. Không khí rộn ràng, ai cũng vui. Cuối tháng họp nghe báo cáo doanh thu tăng, sếp ngạc nhiên hỏi lý do. Phòng Kinh doanh hăng hái trả lời: "Dạ nhờ có mẫu mới". Sếp lại hỏi mẫu mới đâu ra? "Dạ chị Tâm làm". Sếp sửng sốt vì thấy tôi chẳng nói gì cứ lẳng lặng mà làm. Có lần ông sếp lớn từ Pháp về, bà Tổng GĐ đem khoe loạt collection sử dụng vải tồn kho của tôi. Ông nói :"Đẹp đấy, nhưng hơi .. Vietnamien!"...
Có lẽ ông quen mắt nhìn hàng của Tây làm rồi, nhưng sản phẩm dành cho thị trường nào người thiết kế phải hiểu rõ. Có khi mẫu "tây" quá khó chấp nhận. Tôi còn nhớ có một mẫu do cô thiết kế người Pháp làm, cô "chơi" luôn hình chiếc bra trên ngực áo. Mẫu này bán rất chậm, vì tâm lý người Việt Nam ngại không dám mặc. Còn các size, cup cô cho sản xuất rất nhiều cỡ 85-90 B,C mà người Việt Nam nếu to béo như Tây thì đâu có nhiều. Về sau chính sếp lớn phải ra tay, bán hết tồn kho kích cỡ "vĩ đại" qua Algérie. Suy cho cùng, các mẫu tôi làm để giải quyết tồn kho bán rất chạy, vì đa số mẫu kín đáo, nhã nhặn có thể phù hợp với nhiều lứa tuổi, và có lẽ vì tôi là người Việt Nam, con mắt nhìn sản phẩm là cho người Việt Nam. Trong thiết kế, đôi khi bạn cần phải phá cách, cần mới mẻ, độc đáo, nhưng phải tùy trường hợp, hoàn cảnh, nhất là khi phải đáp ứng cho đạt doanh thu hàng tháng, bạn cũng sẽ phải chọn ra mẫu nào có thể phù hợp với số đông khách hàng mà thôi.
Bộ sưu tập Night wear LLP sử dụng NPL tồn kho năm 2000
Sau một thời gian ngắn, tồn kho nguyên liệu và phụ liệu giảm hẳn. Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận những đơn hàng trên các loại nguyên phụ liệu này đến nỗi nhiều loại đã hết, phải làm đơn đề nghị nhập vải tiếp. Làm được chuyện, lòng tôi thấy vui vui. Công việc vẽ mẫu phần nào giúp tôi vơi bớt nỗi nhớ tranh sơn mài, dù thỉnh thoảng ban đêm tôi vẫn hay nằm mơ thấy đứng giữa phòng tranh, mùi sơn khó ngửi quen thuộc, sắc màu quen thuộc... Vì đó là "nghề" của tôi hơn 15 năm rồi.
Ngày ấy, khi phụ trách những thị trường khác ngoài Pháp, tôi lấy được đơn hàng của Đông Âu, của Trung Đông. Thú vị nhất là đơn hàng Trung Đông. Nhiều sếp trong công ty can tôi đừng mất thì giờ vì rất khó, chính họ đã nhiều lần thất bại. Ông khách hàng lại nhìn tôi than thở: "Tại sao, chúng tôi muốn bán hàng của công ty, launching sản phẩm công ty mà khó tiếp cận thế này?" Thấy ông ta than thở, tôi lại càng muốn cố gắng giúp đỡ. Cuối cùng mọi chuyện ổn thỏa. Ông ta đã chọn được nhiều loại hàng. Ngày tôi nhận được đơn hàng cũng là ngày ông ta gửi về những hình ảnh chụp showroom lộng lẫy ngay tại thủ đô Riyadh cho thấy sự chuẩn bị rất chu đáo của họ trước khi nhập hàng qua. Công ty này thuộc sở hữu của một tỷ phú Ả Rập. Lúc đó các sếp mới tin là sự thật. Còn tôi thì thấy rằng, nếu ngại chuyện khó bạn sẽ không bao giờ thành công. Trong trường hợp của tôi, ngoài may mắn, điều chính mình phải nỗ lực là sự kiên nhẫn, tấm lòng đối với công việc và công ty mình đang làm, cùng sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Một vài hình ảnh trong bộ sưu tập Nightwear của LLP sử dụng NPL tồn kho năm 2000
Cũng thật là vui khi đến ngày công ty tổ chức lễ kỷ niệm 10 năm thành lập. Lúc này công ty đã dời về khu công nghiệp ĐN, rộng hơn nơi cũ rất nhiều, quy mô lớn hơn. Phòng Kinh Doanh chúng tôi được lệnh phải tổ chức trình diễn thời trang trong đêm lễ kỷ niệm. Gần 1.000 khách hàng được mời cộng thêm hơn 2.000 nhân viên công ty, cái sân lớn như bùng nổ. Chúng tôi ký hợp đồng với một nhóm 10 người mẫu và MC là Thanh Bạch. Phần trình diễn gồm 5 màn: Áo dài 1 màn, Underwear 2 màn, Nightwear 2 màn. Vì mục đích là giới thiệu sản phẩm mới nên các người mẫu được mặc áo dài mỏng để có thể nhìn thấy bên trong. Màn 2 và 3 vì trình diễn y phục "nhạy cảm" nên tôi phải chọn các loại kimono đi cùng tông màu cho kín đáo. Khi ra đến sân khấu, các người mẫu chỉ cần mở nhẹ chiếc kimono một chút thôi để thấy bộ đồ bên trong, đẹp như đồ tắm bikini vậy thôi nhưng vì lúc đó, các màn trình diễn underwear không được Bộ Văn hóa & Thông tin cho phép nên chúng tôi đành làm "nửa kín nửa hở". Riêng màn 4 và 5, vì tính chất "trình diễn", tôi tạo mẫu nightwear lộng lẫy gần như áo đầm dạ hội. Cuộc trình diễn thời trang ấy dù tổ chức lần đầu tiên còn nhiều vụng về nhưng cũng khá thành công. Giám đốc một siêu thị Pháp đã ngỏ ý mời tôi hợp tác tổ chức một chương trình trình diễn thời trang tại siêu thị để quảng bá sản phẩm sau đó. Còn bà sếp thì đã sung sướng quá đến bật khóc và ôm chầm lấy tôi khi tôi vừa từ hậu trường bước ra.
Đó cũng là thời gian hạnh phúc của tôi vì được làm việc và chia xẻ, chan hòa tình cảm cùng đồng nghiệp. Còn nhớ trong phòng Kinh doanh có vài nhân viên nam, còn lại toàn là nữ. Đầu tiên khi vào làm việc, một số chàng trai độc thân cảm thấy ngại ngùng khi nhìn thấy sản phẩm "underwear" của phụ nữ. Anh chàng trưởng phòng lấy tay nhón một chiếc áo bra như nhón phải con chuột. Giám đốc nhăn mặt: "Các em đừng nghĩ gì sâu xa, phải xem đây là sản phẩm". Khi quen rồi, anh chàng trưởng phòng thú nhận: "Ban đầu khi mình xách Samsonite đựng các "thứ" ấy đến làm việc với đối tác nữ, thật đỏ cả mặt, nhưng rồi .. cũng quen, nay thấy .. thích!" Anh chàng phụ trách tiếp thị trẻ tuổi thì nói : "Em cũng vậy, khi em phải đi tiếp thị đem rất nhiều mẫu, về nhà em không cho ai xem hết vì sợ ... hiểu lầm thằng này giờ toàn nghiên cứu .. underwear!" Cả phòng cười ầm. Chúng tôi đã cùng trải qua những ngày vui vẻ được làm việc bên nhau, thân thiết như một gia đình. Nay phòng Kinh doanh ngày ấy đã thay đổi, nhiều người đi làm công ty khác. Chàng trưởng phòng mở một loạt quán café ở thành phố rất thành công. TT làm cho công ty nước ngoài. TA chuyển qua một hãng tàu vận chuyển. Và tôi cũng đã từ giã ra đi để trở về với sắc màu. Nhưng khi nhắc lại những kỷ niệm thời gian này, lòng tôi vẫn cảm thấy rất ấm áp khi được sống trong môi trường làm việc rất tình cảm và đầy tính nhân bản đó. Tôi nghiệm ra một điều là người ta có thể làm được nhiều việc khác nhau, miễn là ở công việc nào, ta cũng phải hết lòng với nó. Có phải cuộc đời như tấm gương soi, ta mỉm cười với nó thì nó sẽ mỉm cười lại với ta?
* NGUYỄN DIỆU TÂM





















































