Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

Pháo đài đỏ Agra và Taj Mahal, ngôi đền của Tình yêu.

1- AGRA FORT, CUNG THÀNH DIỄM LỆ:


Agra Fort, được công nhận Di sản thế giới UNESCO năm 1983, còn được gọi là Lal Qila, Fort Rouge và Pháo đài đỏ của Agra, nằm cách Taj Mahal 2,5 km về phía Tây Bắc.
Pháo đài này có thể được xem như cung thành. Theo nhiều dự đoán, pháo đài bị nhà Mogul chiếm từ nhà Lodhi cuối thế kỷ 16 bởi Akbar Đại đế. Trong thời kỳ trị vì của mình, ông đã dời đô của đế quốc mình từ Delhi đến Agra. Nhờ sự dời đô này mà Agra đã trở nên thịnh vượng. Akbar cho xây pháo đài bằng đá cát đỏ và cẩm thạch trắng làm trang trí.
Nhưng phải đến thời kỳ trị vì của cháu Akbar là Shah Jahan thì khu vực này mới có hình dạng như ngày nay. Shah Jahan xây đền Taj Mahal cho vợ. Không giống như ông của mình, Shah Jahan thích xây bằng đá cẩm thạch, dát bằng vàng hoặc đá bán quý. Ông đã cho phá hủy một số công trình bên trong để xây lại theo ý mình.
 
Agra Fort, pháo đài Đỏ. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm


Diwan-e-Khas, Agra Fort. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
Muasamman Burj, tòa tháp bên trái là nơi Shah Jahan bị giam giữ lúc cuối đời.


Vào lúc cuối đời, Shah Jahan bị con trai là Aurangzeb tống giam vào tù bên trong pháo đài một hình phạt có lẽ không khắc nghiệt lắm vì pháo đài này rất xa hoa. Người ta đồn rằng Shah Jahan qua đời ở Muasamman Burj, một ngôi tháp với các ban-công bằng cẩm thạch với tầm nhìn tuyệt vời ra Taj Mahal.
Pháo đài rộng 380.000 mét vuông (94 acre) theo một sơ đồ hình bán nguyệt, nằm song song với dòng sông, và các bức tường của nó cao đến 70 feet (2.13m). Các bức tường thành đôi có các đồn lũy tròn lớn xen kẽ giữa các khoảng cách, với các bức tường có lỗ châu mai. Có bốn cổng được bố trí ở bốn bên, cổng Khizri mở ra phía sông.
Hai trong số các cổng của pháo đài là đáng chú ý: "Cổng Delhi" và "Cổng Lahore". Cổng Lahore còn được gọi là "Cổng Amar Singh" dành cho Amar Singh Rathore (một nhà quý tộc Rajput, cận thần của hoàng đế Shah Jahan)



Cổng Delhi đặc biệt rất to lớn, đối mặt với thành phố ở phía tây của pháo đài, được coi là lớn nhất trong bốn cổng và là một kiệt tác vào thời hoàng đế Akbar thế kỷ 17,  được xây dựng khoảng năm 1568 để tăng cường an ninh và là cổng chính thức của nhà vua, và bao gồm các đặc trưng liên quan đến cả hai. Cổng này được tôn tạo bằng đá cẩm thạch trắng. Một cây cầu bằng gỗ đã được sử dụng để vượt qua con hào và đến cổng từ lục địa; bên trong có một cửa ngõ gọi là Hathi Pol ("Cổng Voi") - được bảo vệ bởi hai con voi đá có người cưỡi to lớn như thật - thêm một lớp an ninh nữa. Cây cầu cuốn, có thể xoay 90 độ giữa các cổng bên trong làm cho kín lối vào không xâm nhập được. Trong một cuộc vây hãm, kẻ tấn công sẽ dùng voi để đè bẹp cổng của pháo đài. Nếu không có một cấp độ, chạy thẳng để thu thập tốc độ, tuy nhiên, một cái gì đó ngăn cản bằng cách bố trí này, voi không hiệu quả.


Hiện nay quân đội Ấn Độ (Lữ đoàn dù đặc biệt) vẫn đang sử dụng phần phía bắc của Pháo đài Agra, cổng Delhi không được sử dụng cho công chúng. Khách du lịch vào tham quan Agra Fort qua Cổng Amar Singh.
Agra Fort là nơi rất quan trọng trong lịch sử kiến ​​trúc. Abul Fazal ghi lại có 500 tòa nhà theo thiết kế đẹp của Bengal và Gujarat được xây dựng trong pháo đài. Một số trong đó đã bị phá hủy bởi Shah Jahan để nhường chỗ cho cung điện bằng đá cẩm thạch trắng của ông ta. Hầu hết những dinh thự khác đã bị phá hủy bởi người Anh giữa năm 1803 và năm 1862 để tăng diện tích cho doanh trại. Gần 30 dinh thự Mughal vẫn còn ở phía đông nam, nhìn ra hướng sông. Trong số đó, cổng Delhi và cổng Akbar và một cung điện - "Bengal Mahal" - là những dinh thự tiêu biểu của Akbari.
Akbar Darwazza (Akbar Gate) được người Anh đặt tên là Amar Singh Gate. Cổng này có thiết kế tương tự như cổng Delhi. Cả hai đều được xây bằng đá sa thạch đỏ.
Bengal Mahal được xây bằng đá sa thạch đỏ và bây giờ được chia thành Akbari Mahal và Jahangiri Mahal.


Đền Taj Mahal trong nắng chiều, nhìn từ thành cổ Agra. Ảnh: NDT

2- TAJ MAHAL, NGÔI ĐỀN CỦA TÌNH YÊU VĨNH CỬU:
Taj Mahal, một lăng mộ nằm về phía Nam thành phố cổ Agra, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, cách thủ đô New Delhi 200 km. Agra vốn là thủ phủ của những hoàng đế Hồi giáo (Mughal) thống trị miền Bắc Ấn Độ từ thế kỷ 16 đến 19.
Hoàng đế Mughal Shāh Jahān (gốc Ba Tư, lên ngôi năm 1627); trong tiếng Ba Tư Shah Jahan có nghĩa là "chúa tể thế giới" đã ra lệnh xây ngôi đền này cho người vợ yêu dấu của mình là Mumtaz Mahal khi bà qua đời. Ngôi đền có chiều cao 73 m (240 ft). Công việc xây dựng kéo dài gần 22 năm ròng, bắt đầu từ 1631 và hoàn thành năm 1653.
Taj Mahal là hình mẫu tuyệt vời nhất của kiến trúc Mughal, một phong cách tổng hợp các yếu tố của các phong cách Kiến trúc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, và Hồi giáo, được nằm trong danh sách các Địa điểm Di sản Thế giới của UNESCO vào năm 1983 và được miêu tả là một "kiệt tác được cả thế giới chiêm ngưỡng trong số các di sản thế giới".

Đền Taj Mahal trong sương mai. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm


Việc xây dựng Taj Mahal đã bắt đầu tại Agra ngay sau cái chết của Hoàng hậu Mumtaz vào năm 1632. Lăng chính được hoàn thành năm 1648, và các công trình xung quanh cùng vườn cây hoàn thành 5 năm sau đó.
Điểm nhấn của Taj Mahal là lăng mộ đá cẩm thạch trắng. Giống như hầu hết lăng mộ Mughal khác, các yếu tố căn bản đều có nguồn gốc Ba Tư: một tòa nhà đối xứng với iwan, một ô cửa hình vòm, trên đỉnh là một vòm lớn. Đỉnh vòm được trang trí một bông hoa sen nhấn mạnh chiều cao. Đỉnh cao nhất là một hình chạm đầu mái mạ vàng, theo phong cách pha trộn Ba Tư truyền thống và các yếu tố Hindu.
Tại mỗi góc của mặt nền lăng mộ là các ngọn tháp theo kiểu giáo đường Hồi giáo: bốn ngọn tháp lớn cao hơn 40m.



Các trang trí bên ngoài đền Taj Mahal được đánh giá là những trang trí đẹp nhất thời vương triều Mughal. Một chi tiết trang trí nổi bật chính là các dòng chữ pishtaq nổi tiếng được viết bằng sơn, hoặc bằng vữa, hoặc bằng đá khảm hoặc đơn giản hơn là chạm khắc thẳng vào vách tường.
Nội thất bên trong lăng Taj Mahal đã vượt ra khỏi những yếu tố trang trí truyền thống, là những bức tranh chạm khắc. Vật liệu trang trí trên bề mặt là đá quý hay đá bán quý. Mỗi chi tiết trang trí ngoại thất của hầm mộ đều được đánh giá với nghệ thuật kim hoàn.
Vật liệu xây dựng Taj Mahal được lấy từ nhiều nơi trên khắp Ấn Độ và châu Á và có hơn 1000 con voi được sử dụng để vận chuyển vật liệu xây dựng. Đá cẩm thạch trắng mờ được mua từ Makrana, Rajasthan, jasper từ Punjab, jade và pha lê từ Trung Quốc. Turquoise từ Tây Tạng và Lapis lazuli từ Afghanistan, trong khi sapphire từ Sri Lanka và carnelian từ Ả Rập. Tổng cộng có 28 loại đá quý và bán quý được khảm vào đá cẩm thạch trắng.

Cổng vào đền Taj Mahal. Ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
Việc xây dựng Taj Mahal đã được giao phó cho một hội đồng quản trị của kiến trúc sư dưới sự giám sát của triều đình. 20.000 lao động được sử dụng từ khắp miền bắc Ấn Độ. Các nhà điêu khắc từ Bukhara, nhà thư pháp từ Syria và Ba Tư, người xếp lớp đá từ miền nam Ấn Độ, người cắt đá từ Baluchistan, một chuyên gia trong việc xây dựng tháp pháo, một người chỉ chuyên khắc hoa trên đá cẩm thạch, trong tổng số 37 người tạo ra tuyệt tác này.
(Trích dịch từ nguồn wikipedia.en)
Photos by Dieu Tam Nguyen
2.2018

Hành trình đến với đất nước Chùa Tháp Myanmar

Cùng với nhóm từ thiện Hiểu & Thương, nhóm các sư cô Bến Tre, Chung Tay Vì Cộng Đồng (CTVCĐ) và một số tình nguyện viên, chúng tôi lên đường đi Myanmar từ ngày 17/10 - 27/10/2017.
Ngày thứ nhất khi vừa đến Myanmar, sư Phước Vương của Thiền viện Panditarama, sư Kim của Chùa Đại Phước đã đón chúng tôi tại phi trường Yangon. Rời phi trường, đoàn chúng tôi đi ngay đến các điểm trong chương trình:
1- Nghiệm thu xây dựng giếng, 8 nhà vệ sinh, 1 nhà nội trú ở trường làng Ywar TawGone. Phát 200 phần quà cho học sinh và 160 phần quà cho hộ nghèo trong làng.
2- Nghiệm thu xây dựng giếng, phát 120 phần quà cho học sinh trường tiểu học và một số hộ nghèo ở làng Impha.
Có một nhà sư đến từ Nepal đã đi cùng đoàn chúng tôi đến các điểm trường này, là 2 trong số 27 trường mà sư đã dạy thiền cho học sinh tại Myanmar. Mỗi buổi sáng trước khi vào giờ học, các em sẽ tọa thiền 20 phút.



Đầu tiên chúng tôi đến YwarTawGone village - Trường làng Ywar TawGone post primary school. Từ đầu làng đã thấy dân làng và học sinh đứng xếp hai hàng dài thăm thẳm đón tiếp đoàn chúng tôi. Họ đã chờ khá lâu, cũng phải hơn tiếng đồng hồ trong lúc chúng tôi di chuyển từ sân bay về đây. Thật cảm động khi chứng kiến sự tiếp đón với tất cả lòng biết ơn của họ đối với đoàn từ thiện đến từ đất nước VN xa xôi. Ngôi trường do chính phủ Myanmar xây dựng đã được 35 năm. Hiện có 200 học sinh từ lớp 1 đến lớp 7. Các em được học miễn phí. Trường có 9 giáo viên, đa số là nữ. Mức lương giáo viên 50.600 MMKyats (# 850.000 đồng VN)/ tháng. Nhóm xây được 8 nhà vệ sinh, 1 giếng và 2 phòng nội trú cho giáo viên nữ ở xa đến (trước đây các cô ở trong các nhà dân điều kiện rất thiếu thốn). Chương trình còn dự định xây thêm 4 lớp học nhưng vì trường chưa có đất nên còn chờ. Do kinh phí cũng eo hẹp nên khi xây dựng những công trình này, dân làng đã góp sức với nhà trường cùng làm.




Trên con đường đất đầy bùn sình đi vào những ngôi làng xa xôi, trong cơn mưa chiều dai dẳng, chúng tôi phải chuyển từ xe lớn đến xe tải chở hàng loại nhỏ đi tiếp đến ngôi trường thứ 2 là Impha Village Basic education primary School cách Bago (thủ phủ của the Bago region in Myanmar) 50 miles, cách Yangon 57 miles (91 km) về phía Đông Bắc.
Ngày thứ hai, chúng tôi thức dậy sớm từ 3 g sáng để chuẩn bị đến Thiền viện Panditarama dự lễ sớt bát. Đoàn cúng dường lễ sớt bát 1.000 phần quà và cúng dường trai tăng 130 vị.


Chúng tôi cũng được diện kiến chiêm bái Ngài Thiền sư Pandita Sayādaw tại Thiền viện ở Yangon.
Ngày 21/10 là đại lễ dâng y Kathina cả ngàn tăng ni tại Thiền viện Panditarama.
Những ngày tiếp theo, đoàn đi tham quan một số chùa nổi tiếng ở Yangon như chùa Shwe Daw (nơi lưu giữ xá lợi răng của đức Phật), Hòn đá Thiêng (Golden Rock), chùa Vàng Schwedagon (nơi lưu giữ 4 báu vật thiêng liêng của Phật là: cây gậy, cái lọc nước, mảnh áo và 8 sợi tóc).
Sau 2 ngày tham quan, tôi và nhóm bạn về Đại Phước, ngôi chùa đầu tiên của VN tại Myanmar. Số còn lại gần 20 người đi về trường Thiền tu tập.
Ngày 23/10 có một nhóm đi về VN trước, nhóm còn lại vào Thiền lâm Panditarama cho đến ngày 27/10 (dành cho các Thiền sinh tu tập hành thiền và xuất gia gieo duyên). Theo chương trình, nơi đây thiền sinh sẽ tọa thiền liên tục từ 3:30 am đến 9:00 pm, trừ lúc nghỉ ăn trưa (1 tiếng từ 10:30-11:30 am) và nghỉ giải lao từ 5:00 - 6:00 pm vào buổi chiều. Sau 9:00 pm là tọa thiền và thiền hành tại cốc riêng. Mỗi thời thiền hay pháp thoại là một giờ đồng hồ và nghỉ giữa 2 thời chỉ từ 5 đến 15 phút.
Thiền viện Panditarāma do Thiền sư Pandita Sayādaw làm thiền chủ, tuổi trên 80. Ngài đã từng làm thiền chủ và trú trì tại trường thiền Mahāsi Yeitha một thời gian, sau khi Ngài Mahāsi Sayādaw viên tịch. Thiền sư cũng từng đi nhiều nước Phương Tây để tổ chức các khoá thiền tập từ năm 1951, và được rất nhiều thiền sinh ngoại quốc cũng như trong nước kính ngưỡng và đến tận đây tu tập hành thiền.
Cơ sở chính của trường Thiền nằm tại Yangon, thủ đô trước đây của Myanmar. Cơ sở II trong rừng (Thiền lâm Panditarama), cách Yangon khá xa, diện tích rất lớn, khoảng 100 hecta đất rừng. Thiền đường có hai tầng khá rộng, phía trên dành cho chư Tăng và cư sĩ nam, phía dưới dành cho chư Ni và cư sĩ nữ. Cốc am và các công trình phụ đang được xây dựng thêm.






Chỉ hơn một tuần lễ tại Myanmar, vẫn chưa đủ vào đâu để hiểu về đất nước chùa tháp xinh đẹp này. Trong các làng mạc truyền thống ở Myanmar, chùa chiền là trung tâm của đời sống văn hóa. Các nhà sư được sùng kính và người dân luôn quỳ trước mặt để tỏ lòng tôn trọng họ. Lễ nhập tu được gọi là shinbyu là lễ đánh dấu sự trưởng thành quan trọng nhất của một chú bé khi vào chùa tu trong một khoảng thời gian ngắn. Có hàng vạn ngôi chùa, đền, tháp và những huyền thoại, câu chuyện kỳ bí từ đó rải rác khắp nơi trên đất nước Myanmar. Nhiều nhất là ở thành phố Bagan với hơn 4.000 ngôi đền, chùa, tháp lớn nhỏ trên diện tích khoảng 40 km2. Nhiều chùa, tháp được xây dựng từ đầu thế kỷ nguyên Bagan (thế kỷ 11). Cả nước có khoảng 500.000 vị tăng ni và khoảng 90% là tín đồ Phật giáo. Trong mùa lễ dâng y Kathina, từ sáng đến tối đi đâu ta cũng có thể nghe tiếng đọc kinh thoảng theo hương gió đưa về. Dọc theo nhiều con đường, ngoài từng nhóm tu sĩ ôm bình bát đi khất thực, còn có nhiều người dân ôm bát đứng chờ bên đường trong tiếng trống chuông rộn rã. Cúng dường tài hay thực đều là hành động tạo phước báu cho mỗi con người. Tín ngưỡng đã ảnh hưởng đến tâm hồn và tính cách họ từ lúc sinh ra, người Myanmar vốn hiền lành và thật thà, ngay cả khi vào trong những khu chợ mua bán ta cũng có thể dễ dàng nhận ra. 

Bạn có thể xem thêm các trang webs của Thiền viện Panditarama:
http\://web.ukonline.co.uk/buddhism/pandita.htm
http\://www.panditarama.org/

Bài và hình ảnh: Dieu Tam Nguyen
Myanmar, mùa thu 2017

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

I AM STERDAM!

I AM STERDAM! (*)


Amsterdam, thủ đô của Hà Lan, là thành phố lớn nhất của tỉnh Bắc Hà Lan (tiếng Hà Lan: Noord-Holland), thủ phủ của tỉnh là Haarlem.
Amsterdam nằm trên các bờ vịnh IJ và sông Amstel. Thành phố được thành lập vào thế kỷ 12 từ một làng chài nhỏ bên bờ sông Amstel. Ngày nay, đây là thành phố lớn nhất Hà Lan, là trung tâm chính trị, kinh tế.
Tên của thành phố có nguồn gốc từ Amstellerdam, một con đập trong sông Amstel. Từ một làng chài nhỏ ở cuối thế kỷ 12, Amsterdam đã trở thành một trong những cảng quan trọng nhất trên thế giới trong thời kỳ hoàng kim Hà Lan, là trung tâm tài chính và kim cương hàng đầu thế giới. Trong thế kỷ 19 và 20, thành phố mở rộng, và nhiều khu vực lân cận và các vùng ngoại ô mới được thành lập.


Thành phố là thủ đô tài chính và văn hoá của Hà Lan. Nhiều tổ chức lớn của Hà Lan có trụ sở chính ở đây, và 7 trong 500 công ty hàng đầu thế giới, bao gồm Philips và ING, có trụ sở ở thành phố này. Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam, thị trường chứng khoán lâu đời nhất trên thế giới nằm ở trung tâm thành phố. Địa điểm thu hút chính của Amsterdam bao gồm các kênh lịch sử của nó, Rijksmuseum, bảo tàng Van Gogh, Hermitage Amsterdam, nhà Anne Frank, phố đèn đỏ De Wallen, và các quán cà phê cần sa thu hút hơn 3.660.000 du khách quốc tế mỗi năm.
Bên cạnh đó, Amsterdam còn có một trong những trung tâm phố cổ lớn nhất châu Âu.
5 thành phố lớn nhất của Hà Lan ngoài thủ đô Amsterdam, là Rotterdam, Den Haag (La Haye), Utrecht và Eindhoven.


Hà Lan (Netherlands) nghĩa đen là "các vùng đất thấp" (Lower countries). Các Vùng đất thấp ngày nay là một định danh gồm có Hà Lan, Bỉ và Luxembourg, song trong hầu hết các ngôn ngữ Roman, thuật ngữ "Các Vùng đất thấp" được sử dụng dành riêng cho Hà Lan.
Hà Lan có địa hình thấp và bằng phẳng, chỉ có khoảng 50% diện tích đất nằm cao hơn 1 m so với mực nước biển. Hầu hết diện tích dưới mực nước biển là đất cải tạo. Từ cuối thế kỷ 16, nhiều khu vực rộng lớn được cải tạo từ biển và hồ, chiếm gần 17% diện tích đất hiện nay của quốc gia. Với mật độ dân số trên 400 người/km², nếu không tính mặt nước thì sẽ hơn 500 người/km², Hà Lan thuộc vào hàng các quốc gia có mật độ dân số rất cao. Tuy vậy, Hà Lan là quốc gia xuất khẩu lương thực và nông sản lớn thứ nhì thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ, do đất màu mỡ và khí hậu ôn hòa, và là quốc gia thứ ba trên thế giới có các đại biểu được bầu cử để kiểm soát hành động của chính phủ; có nền dân chủ nghị viện và quân chủ lập hiến từ năm 1848. Hà Lan có lịch sử lâu dài về khoan dung xã hội và thường được nhìn nhận là một quốc gia tự do, đã hợp pháp hoá mại dâm và an tử, chính sách về ma túy tiến bộ và là quốc gia đầu tiên hợp pháp hôn nhân đồng giới sớm nhất vào năm 2011. Hà Lan cũng đã bãi bỏ án tử hình vào năm 1870 và nữ giới được tham gia bầu cử vào năm 1919.



Hà Lan là một thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu, Khu vực đồng Euro, G-10, NATO, OECD và WTO, nằm trong Khu vực Schengen và Liên minh Benelux. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của năm toà án quốc tế như Tòa án Trọng tài thường trực và Tòa án Công lý Quốc tế, trong đó có bốn toà án đặt tại Den Haag, do đó thành phố này được mệnh danh là "thủ đô pháp luật thế giới."
Hà Lan đứng thứ hai trong chỉ số tự do báo chí năm 2016 của Phóng viên không biên giới. Có nền kinh tế hỗn hợp dựa trên thị trường, đứng thứ 17 về chỉ số tự do kinh tế năm 2013. Có GDP PPP bình quân cao thứ 13 thế giới vào năm 2016 theo số liệu của IMF. Năm 2017, Báo cáo Hạnh phúc thế giới của Liên Hiệp Quốc xếp Hà Lan đứng thứ sáu, phản ánh chất lượng sinh hoạt cao tại đây. Hà Lan là một nhà nước phúc lợi hào phóng, cung cấp chăm sóc y tế phổ quát, giáo dục công cộng và hạ tầng tốt, và nhiều phúc lợi xã hội.


Về mỹ thuật, Hội hoạ Thời kỳ hoàng kim Hà Lan nằm vào hàng được tôn vinh nhất thế giới đương thời, trong thế kỷ 17. Đây là thời của "các bậc thầy Hà Lan" như Rembrandt van Rijn, Johannes Vermeer, Jan Steen, Jacob van Ruisdael. Từ thập niên 1620, hội hoạ Hà Lan tách biệt dứt khoát khỏi phong cách Baroque để bước sang một phong cách miêu tả hiện thực hơn, quan tâm rất nhiều đến thế giới thực. Các loại tranh gồm có tranh lịch sử, chân dung, phong cảnh, cảnh đô thị, tĩnh vật và thể loại. Trong bốn loại tranh cuối nêu trên, các hoạ sĩ Hà Lan lập ra các phong cách được giới mỹ thuật châu Âu dựa vào trong hai thế kỷ sau đó. Trường phái Haag xuất hiện vào khoảng lúc bắt đầu thế kỷ 19, thể hiện toàn bộ những gì tối nhất hoặc sáng nhất trong cảnh quan Hà Lan, những gì âm u nhất hoặc trong trẻo nhất trong khí quyển. Trường phái ấn tượng Amsterdam thịnh hành vào giữa thế kỷ 19, cùng thời kỳ với trường phái ấn tượng Pháp, tập trung vào miêu tả sinh hoạt thường nhật của thành phố.


Vào cuối thế kỷ 19, Amsterdam là một trung tâm nhộn nhịp về mỹ thuật và văn học. Vincent van Gogh là một họạ sĩ hậu ấn tượng, các tác phẩm của ông được chú ý vì vẻ đẹp thô, tính chân thật biểu cảm và màu sắc rõ nét, có ảnh hưởng sâu rộng đến mỹ thuật thế kỷ 20. Trong thế kỷ 20, Hà Lan sản sinh nhiều hoạ sĩ như Roelof Frankot, Salomon Garf, Pyke Koch. Từ năm 1911 đến năm 1914, toàn bộ các phong trào mỹ thuật mới nhất lần lượt truyền đến Hà Lan, bao gồm trường phái lập thể, trường phái vị lai và trường phái biểu hiện. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, De Stijl (phong cách) được dẫn dắt bởi Piet Mondrian và xúc tiến mỹ thuật thuần tuý, chỉ bao gồm các đường dọc và ngang, sử dụng các màu cơ bản.



(Trích nguồn wiki.)
Photo by Dieu Tam Nguyen

(*) Vào tháng 9 năm 2004, cụm từ "I am sterdam", (một cách chơi chữ của người Amsterdam) trở thành khẩu hiệu và nhãn hiệu cho cả con người và thành phố Amsterdam nhằm quảng bá cho thành phố trở thành điểm đến thu hút nhất của du lịch và thương mại Hà Lan.

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2018

TRÊN ĐỈNH TÀ LƠN

Ngày còn nhỏ, tôi thường nghe người lớn nói với nhau “Muốn tu thì lên núi Tà Lơn mà tu!” Cứ tưởng núi Tà Lơn chỉ là truyền thuyết, vậy mà hôm nay tôi đã đặt chân lên đến đỉnh Tà Lơn, mới hay nơi từng gắn liền với nhiều câu chuyện ly kỳ, đầy huyền thoại này nằm ở đất Campuchia mà người Khmer gọi là núi Bokor.
Núi Tà Lơn hay Bokor cách thị xã Kompot, tỉnh Kompot chừng 10 km về hướng Tây Nam, và cách Phnompenh 150 km. Đỉnh cao nhất so với mặt nước biển khoảng 1.080 m. Năm xưa dãy núi này là nơi các cụ tổ sư, giáo chủ, đạo sĩ người Việt từng tu luyện trên đỉnh núi thiêng, trong nhiều hang động, có người đắc đạo tiên. Trong số đó có Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, Nguyễn Thành Đa ( Cử Đa, đạo hiệu là Ngọc Thanh), Huỳnh Phú Sổ (Giáo chủ đạo Hòa Hảo), Ngô Văn Chiêu (khai sáng đạo Cao Đài) v.v.. Có cả các vị tu sĩ người Thái Lan, Miến Điện hoặc các pháp sư, thầy bùa, thầy ngải khắp nơi cũng thường lui tới. Đây cũng được xem như là một thánh địa linh thiêng mà nhiều đoàn hành hương đã lội suối băng rừng tìm đến hội tụ để tinh tấn tu hành.

Lan Thiên, cao nguyên Bokor.

Xưa kia ngọn núi này là chốn thâm sơn cùng cốc, địa thế hiểm trở, nơi rừng thiêng nước độc, có nhiều loài cầm thú nguy hiểm, hùm beo, chằng tinh gấu ngựa, “Xứ hiểm địa chim kêu vượn hú, Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan, Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn, Nhìn trên suối sấu nằm như trăm khúc” (*). Tại ngọn núi này cũng có nhiều hang động, đá tảng hình thù kỳ lạ, cùng nhiều loại cây ngải, thảo dược quý mà có người đã phát hiện được trên con đường “tầm sư học đạo”. Đến năm 1917 khi người Pháp bắt đầu khai phá núi thiêng xây dựng nhà thờ, đền chùa, cửa hàng, bưu điện. khách sạn, casino v.v… thì tấm màn huyền bí về Tà Lơn dần tỏ lộ, dấu tích những hang động cổ xưa cùng những xây dựng thời Pháp nay đổ nát hoang tàn nhiều đã trở thành di sản kỳ thú gắn liền với truyền thuyết của Tà Lơn như tượng nữ thần Veang Kh’mau (người Việt gọi là dì Mâu), tượng Ông Địa, chùa Năm Thuyền (Wat Sampov Pram), điện Tứ Giao, Minh Châu, Lan Thiên, Trung Tòa, cổng Bàn Ngự … là những nơi linh thiêng, cùng một số đền tháp, nhà thờ cổ phủ đầy rêu đỏ với thời gian.

Wat Sapov Pram - Chùa Năm Thuyền cổ.

Ngày nay, để đến núi Tà Lơn, nếu đi từ An Giang, Kiên Giang thì đi qua cửa khẩu quốc tế hay cửa khẩu địa phương mất khoảng 3 – 4 tiếng đồng hồ đi xe từ biên giới Việt Nam là đến núi.
Từ Phnompenh đi lên núi Tà Lơn thì xa hơn, khoảng trên 5 tiếng. Còn chúng tôi, cùng với sư Minh Trung, khi đoàn khởi hành từ Bến Ván lúc 5 giờ sáng, đến thành phố biển Sihanoukville (tiếng Khmer là Krong Preah Sihanouk hay Kampong Som) 12 giờ trưa, nghỉ ngơi chừng 2 tiếng tiếp tục lên đường, đến tỉnh Kompot khoảng 4 giờ chiều, gần hết cả ngày.
Đến Kompot, khi lên đến ngọn đồi lưng chừng núi nơi có tượng thờ nữ thần Veang Kh’mau, trời bỗng sập tối, mây đen kéo về, gió lạnh và có mưa nhỏ hạt. Con đường ngoằn ngoèo như rắn lượn dưới xa kia như mờ dần đi. Trên bầu trời bao la, phía xa xa trên đỉnh núi Tà Lơn chợt xuất hiện một cánh chim đại bàng đang xòe rộng cánh bay lượn mấy vòng thật ngoạn mục rồi từ từ biến mất trong lớp sương mù dày đặc. Có được nhìn thấy cánh đại bàng dang cánh bay lượn trên bầu trời mây vần vũ mới thấy loài chim này đúng là hình ảnh của tự do và kiêu hùng giữa núi rừng bát ngát. Tiếc là tôi không chụp hình kịp! Rồi chừng 15 phút sau, mây tan, chút nắng hoàng hôn ló dạng. Thời tiết trên núi Tà Lơn chợt nắng chợt mưa là như vậy.


Tượng nữ thần Veang Kh'mau (dì Mâu) trên đỉnh Tà Lơn.
Trên ngọn đồi cao, tượng nữ thần cai quản núi Tà Lơn Veang Kh’mau cao 28 m to lớn nổi bật thật đẹp giữa núi rừng. Truyền thuyết kể rằng, bà là một phụ nữ người Việt đến dạy cho dân làng cách trồng lúa, làm ăn. Một ngày kia bà đi tìm chồng rồi bị bão đánh lật thuyền mà chết. Bà hiển linh cứu giúp dân làng và yêu cầu người dân cúng bà biểu tượng Linga.
Trên đường lên đỉnh núi, chúng tôi dừng lại Lan Thiên. Trong lúc mọi người cùng tản qua phía bên trái cung đường thì riêng tôi được một người khuyên nên qua cánh đồng phía bên phải sẽ bắt gặp nhiều thứ lạ lùng hơn. Không biết ngày xưa như thế nào nhưng nơi đây bây giờ chỉ là cánh đồng bát ngát nhấp nhô vô số những tảng đá lớn nhỏ, hình thù lạ kỳ, có tảng thành hình rồng, hình Phật Di Lặc v.v.. Một số chỗ từng là nơi tu hành của các vị tổ sư, đạo sĩ. Ở đây có nhiều cây bá tùng (lá của cây bách và tùng trên một cây), một loại cỏ thân mảnh và nhọn, nhiều loại địa lan và cây "nắp nước", một loại cây có hoa với nắp đậy mà ngày xưa những người đi lạc vào rừng có thể uống nước mưa trữ trong các bông hoa, cũng là một trong các loại thảo dược quý. Theo các tài liệu địa chất, xưa kia có lẽ Bokor là biển nên ngày nay có nhiều đá tảng hình thù kỳ lạ do nước xói mòn, và mặt đất lẫn nhiều cát trắng mịn. Và cứ thế, tôi say sưa đi theo rừng đá lạ, nếu không có tiếng còi xe báo hiệu lên đường có lẽ tôi còn đi nữa, xa nữa … rồi lạc!

Bình minh trên đỉnh Tà Lơn (cao nguyên Bokor)

Đi tiếp hơn nửa tiếng nữa, chúng tôi ghé tham quan Thansur Sokha hotel, một khách sạn lớn sang trọng có đến 564 phòng. Từ thời Pháp Bokor đã trở thành khu nghỉ dưỡng cao cấp, bị bỏ phế hoang tàn sau chiến tranh thì ngày nay là khu nghỉ mát, du lịch và hành hương, vì vậy đường đi lên núi rất tốt, phong cảnh và các khách sạn, resort rất đẹp. Bokor nay đã hồi sinh bằng việc xuất hiện một khu phức hợp nghỉ dưỡng giải trí trên cao nguyên cao cấp đầu tiên do Tập đoàn Sokimex của Oknha Sokun (Công tước Sokun), một tỷ phú gốc Việt, làm chủ đầu tư. Ông cũng là người đầu tư xây dựng Angkor Wat ở Seam Reap và nhiều công trình, dự án lớn khác ở nhiều thành phố như Sihanoukville, Seam Reap… Ở Bokor ông cho xây dựng các khách sạn, villa nằm cạnh các phế tích huyền bí và cho tái hiện resort và casino cổ thời Pháp. Thansur rộng 4.000m2, đường nội bộ được xây dựng dài 200km đã giúp kéo các điểm di tích lại gần nhau hơn. Kể từ đó, Bokor thu hút khá nhiều du khách từ nhiều nơi trên thế giới. Đỉnh điểm, Bokor có thể đón 70.000 lượt khách tham quan trong ngày. Một số điểm tham quan khác ở Bokor còn có Thạch Lâm, Cánh đồng 500 và 100 mẫu, Đầm Đen, thác nước hai tầng Povokvil (Đám mây xoáy), Trung tâm Thiền Bokor, biệt thự vua Monivong… Gần phía khách sạn Palace có những tảng đá xếp như vảy rồng, ngày xưa người ta tin nơi đây thần tiên từ trên trời thường xuống đây đàn ca hát xướng vào những đêm trăng rằm. Cách đó không xa là nhà thờ cổ do người Pháp xây dựng năm 1920, khu khách sạn cổ đã bỏ hoang nhiều năm, bám đầy rêu đỏ. Trên đỉnh Tà Lơn, dưới nắng chiều một ngôi chùa hiện ra uy nghiêm giữa trời mây bên vực núi cao dựng đứng, đó là Wat Sampov Pram (chùa Năm Thuyền), là nơi đoàn chúng tôi trú ngụ một đêm khi lên đến núi. Đây cũng chính là nơi sư Minh Trung của An Hòa tự, Bến Ván từng tu tập trước khi hạ sơn. Chùa do vua Monivong xây dựng vào năm 1924. Người Việt gọi là chùa Năm Thuyền vì có 5 tảng đá nhô ra hình dạng như 5 chiếc thuyền vươn ra phía biển, gắn với tích truyện 5 con thuyền đầy châu báu của hoàng tử Preah Thong và công chúa Thủy cung Nagani năm xưa từng đến vùng núi này trú ngụ và hoàng tử Preah Thong được xem như là cha đẻ của nền văn minh Khmer. Đây cũng là nơi đắc đạo của nhiều bậc chân tu, có cả giáo chủ các tôn giáo miền Nam là Phật Thầy Tây An, Đức Huỳnh Giáo Chủ…

Wat Samov Pram - Chùa Nam Thuyền trên đỉnh Tà Lơn.
Dựa theo một số tài liệu thì hình ảnh chùa Năm Thuyền ngày xưa khá nhỏ chứ không phải nằm trong một quần thể lớn như bây giờ, có lẽ đã được đại trùng tu. Wat Sampov Pram nằm trên ngọn đồi cao, vách đá rêu phủ đỏ thắm. Còn ngôi chùa lớn nằm giữa sân ngày nay có hai tầng, khá dài và rộng. Bên ngoài thiết kế theo kiểu đền tháp Campuchia với hai tượng đầu rắn thần Naga chầu hai bên bậc cấp dẫn lên cửa chính của chùa, nhưng cách trang trí bên trong lại đậm màu sắc Phật giáo dân gian của miền Tây Nam bộ. Bàn thờ Phật ở chính điện, nhỏ gọn. Hai bên hành lang và trên trần là những bức phù điêu thạch cao lớn khắc họa các tích truyện trong cuộc đời đức Phật từ lúc đản sinh, xuất gia, thành đạo và nhập Niết bàn. Đêm hôm ấy chúng tôi nghỉ tại chùa, tắm nước suối trong, ăn cơm chay và nằm đất. Về đêm trời càng lạnh, có mưa nhỏ và gió núi thổi về hun hút. Do đi đường khá mệt nên mọi người đều lăn ra ngủ say. Tôi thức giấc mấy lần trong đêm vì lạnh, phải lấy thêm áo ấm mặc. Mở cửa ra ngoài chỉ thấy một màn đêm và sương phủ bao quanh núi rừng. Một số chị em trong đoàn ban đêm không dám ra ngoài vì sợ ma. Riêng tôi lại có một cảm giác kỳ lạ, có phần thú vị khi nghĩ mình đang ở trên đỉnh núi Tà Lơn … nghe tiếng mưa rơi trên lá khuya, tiếng dế giun, chim núi kêu và gió lạnh trong đêm vắng. Càng về khuya, không khí núi rừng càng trong trẻo thanh khiết. Không còn là nơi rừng thiêng nước độc, hùm beo thú dữ như năm xưa, mà dường như chỉ còn lại đâu đây dấu tích của người năm cũ, những vị tổ đạo, thiền sư, hiền giả đi tìm nơi thanh vắng tu hành còn lưu lại bên những hang động, những mái chùa, đền tháp cổ linh thiêng. 

Tượng Phật ở Wat Sampov Pram, Bokor.

Sáng sớm hôm sau tôi thức dậy khi mặt trời chưa lên. Sương mù dày đặc che kín cây cỏ hai bên đường mòn. Dần dần sương tan và nắng lên. Tôi đi tản bộ quanh chùa. Có nhiều tảng đá chất chồng tự nhiên bám đầy rêu xanh rải rác đó đây. Có hai lối đi, một phía bên trái lên đồi cao hơn, có bậc cấp cao đá đỏ dẫn lên trên Wat Sampov Pram. Điện thờ, tháp cổ và những bức tường gạch đỏ đầy rêu phong huyền bí, có rêu xanh và cả rêu đỏ. Giữa sân có tượng đức Phật trên một hồ nước. Phía bên phải là lối dẫn đến vườn tượng, mô tả cảnh đức Phật Thích Ca chuyển pháp luân cho 5 anh em Kiều Trần Như. Trên cao nhất là tượng Phật Bổn sư uy nghi rất đẹp ngự trên tòa tháp phía vườn hoa. Quanh chùa không có lan can, chỉ có một bức tường thấp ngắn và nhiều tảng đá lớn nằm chênh vênh nơi vực sâu thăm thẳm bên dưới. Từ chùa phóng tầm mắt nhìn ra xa thấy biển và đảo Phú Quốc. Cảnh thiên nhiên nơi đây thật không kém chi thiên đường, nhất là khi bình minh mặt trời ló dạng và lúc hoàng hôn rơi xuống những tia nắng cuối ngày. Tôi cảm thấy mình thật may mắn đã chứng kiến Tà Lơn vào cả hai thời điểm trong ngày đó. Sắc màu của những pho tượng dát vàng hay bằng đá tuyệt đẹp, của mái ngói đền chùa, vừa cổ kính nghiêm trang khơi gợi quá khứ và lịch sử, những tàng cây và bông hoa đủ màu trong vườn chùa, thung lũng bên dưới xanh thẳm, tất cả khi ẩn khi hiện trong màn sương núi có thể ập đến bất cứ lúc nào, rồi những tia nắng lại tràn đến làm vạn vật trở nên óng ánh ... Ôi thật tuyệt vời. Vậy mà nơi đây từng bị bỏ phế hoang tàn, là thành phố ma cho đến năm 2002 khi đoàn làm phim của Hollywood đến quay bộ phim City of Ghost, Tà Lơn mới thật sự thức giấc ... như nàng công chúa ngủ trong rừng ... sau 100 năm!
Vẫn còn nhiều nơi chưa đến. Tôi hy vọng lần sau lại đến Bokor một lần nữa để được thấy nhiều hơn, và sẽ muốn ghé Shihanoukville, Koh Rong và Koh Rong Samloem, hai hòn đảo hoang sơ của xứ chùa Tháp được ví như “thiên đường Maldives” của Đông Nam Á.

Tháng 4-2018
Bài viết và hình ảnh: Dieu Tam Nguyen

(*) Trích “Thơ Núi Tà Lơn" của nhà văn Sơn Nam (1926-2008), một thời từng trú ngụ tại núi Tà Lơn.
Tham khảo một số tư liệu từ Google, Wikipedia.