Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẢI THÍCH VỚI CON TRẺ

Tôi không biết phải xoay xở thế nào với những gì diễn ra sau cuộc nói chuyện về cái chết, vì thế mỗi khi nhắc đến chủ đề này, tôi thường cố gắng hướng sự chú ý của Sonya sang chuyện khác, hoặc trả lời mơ hồ kiểu như "Ông bà đã đi rất xa con ạ".
Tôi không thích thú gì khi phải chờ 5 năm nữa để nói cho con gái về thế giới bên kia. Tôi không biết sau cái chết là gì và không nghĩ rằng chúng tôi cần phải biết, nhưng tôi rất sợ phải nói với con gái về điều đó. Dì của tôi mất lúc tôi mới 10 tuổi, bố tôi cũng qua đời sau đó một năm. Bố dượng tôi mất khi tôi 16 tuổi. Tôi nhớ mẹ đã cố gắng giải thích về cái chết cho tôi, dùng những từ như "yên bình" và "nhẹ nhõm", khiến tôi càng thêm bối rối.
Tôi biết Sonya rất để ý đến các tiểu tiết nên khó có thể chấp nhận những mô tả mơ hồ. Nhưng nếu tôi bịa ra một bữa tiệc trên bầu trời hoặc một vùng đất với những cây kem và các cô tiên, con bé sẽ không hỏi nữa.
Chồng tôi, Jay, chọn cách nói rằng đó là một bí ẩn, rồi sau đó tháo nút bằng những câu hỏi. Jay là người đã ôm tôi tại lễ tang của mẹ, và vài tháng sau đó, chúng tôi hẹn hò. Tôi từng hét lên với anh rằng anh không bao giờ hiểu được thế nào là mất mát cả. Có thể là anh không hiểu thật, nhưng có phải tôi hiểu nhiều hơn chỉ vì tôi đã trải qua nó trước đó?
Sáng thứ bảy hôm đó, trong khi Sonya đang say sưa vẽ hình trái tim, tôi đã bắt chuyện với con gái:
"Này con gái, con có nhớ mẹ nói là khi nào chúng ta có thể đến thăm bà Jonie và ông Roger không?"
"Có ạ".
"À, mẹ nhầm đấy. Thực sự là chúng ta không thể làm điều đó, vì ông bà đã mất cách đây rất lâu rồi".
Sonya cười và nói: "Không, ông bà không chết".
"Có, họ đã mất rồi con ạ", tôi nói tiếp. "Và sau đó ông bà trở nên vô hình, nhưng chúng ta có thể nghĩ về họ và ngắm những bức ảnh của họ. Có người nói rằng sau khi chết rất thú vị, có người lại nói rằng rất yên tĩnh".
"Nếu con có câu hỏi gì hoặc muốn trao đổi gì về chuyện này thì chúng ta có thể nói vào bất cứ lúc nào nhé", Jay tiếp lời.
Sonya nhún vai và quay trở lại với tác phẩm nghệ thuật của mình. Jay và tôi chầm chậm đứng lên. Chúng tôi không dám chắc thông điệp của mình đã được con bé thấu hiểu. Nhìn Sonya không có vẻ gì là buồn bã cả, nhưng vợ chồng chúng tôi vẫn đập tay nhau ăn mừng phía trên đầu con bé. Khủng hoảng đã được ngăn chặn.
Cho đến cuối mùa thu năm ngoái, vào sinh nhật 40 tuổi của mình, Shoshana, bạn tốt nhất của tôi, trèo lên một mỏm đá ở sân sau và giải thích về một trò chơi cho lũ trẻ con. Shoshana được chẩn đoán đang mắc bệnh ung thư giai đoạn 4. Tôi đã từng chứng kiến cô ấy chống lại tất cả các bác sĩ và những chẩn đoán bệnh, nhưng khi nhìn Shoshana loạng choạng cạnh con lừa bằng giấy, tôi biết bạn mình đang chết dần.
Bằng cách nào đó mà không phải do tôi nói, Sonya cũng nhận thấy điều đó. Tôi đã cảnh báo con bé về việc Shoshana đội một chiếc mũ lớn và trông rất mệt mỏi.
Khi chúng tôi trở về nhà sau bữa tiệc, Sonya bắt đầu nhắc đến cái chết bất cứ khi nào có thể. 
"Nhà mình chụp ảnh đi", tôi nói. 
"Nhưng nhà mình đã chết", Sonya đáp.
Hoặc khi Jay đang ôm con bé trong tay và nói: "Một ngày nào đó bố sẽ nhảy điệu này cùng con trong đám cưới con gái nhé". 
"Nếu bố không chết trước lúc đó", Sonya đáp.
Sau đó, khi chúng tôi đang chơi trong công viên, tôi nhận được cuộc gọi. Shoshana đã qua đời. Nhà của cô ấy bây giờ là bầu trời trong xanh kia, hoặc cũng có thể cô ấy đang ở dưới những bóng cây.
Đây là câu chuyện mà tôi thực sự rất sợ phải nói. Đó là mất mát đầu tiên mà tôi và Sonya cùng trải qua. Không ai chịu trách nhiệm và không ai có lỗi cả. Đó là một phép ma thuật khủng khiếp: vừa ở đây một phút, thoắt đã sang chỗ kế tiếp, và chỗ tiếp theo sau đó, rồi mãi mãi. 
Jay và tôi ngồi trên vỉa hè và giải thích rằng, cô Shoshana đã qua đời. Điều này giúp cơ thể cô ấy không còn đau đớn, nhưng cũng khiến chúng tôi không còn được gặp cô ấy nữa. Tôi nghe thấy bản thân mình đang dùng đúng những từ mơ hồ mà mẹ tôi từng nói với tôi cách đó hàng chục năm: "yên bình" và "nhẹ nhõm". 
Tôi cố gắng thuyết phục mình như khi còn là cô bé 5 tuổi, rằng đó là sự thật, rằng Shoshana có thể sống ở một nơi tốt hơn. Khi tôi bắt đầu ngập ngừng, Jay nói rằng tôi có thể buồn một chút. Và một lần nữa, chúng tôi lại bỏ ngỏ cho Sonya đặt câu hỏi.
Sonya hỏi tôi liệu có thể cho con bé thấy tôi buồn như thế nào bằng cách dùng tay đo không. Tôi đưa hai bàn tay ra cách nhau một khoảng bằng vai của mình. Sonya nghiên cứu thước đo nỗi buồn của tôi và gật đầu. "Ok, chúng ta vẫn có thể ăn kem chứ mẹ?", con bé hỏi.
"Có chứ", tôi buột miệng, dù đó đã là cây kem thứ 10 trong buổi sáng. 
Đó là điều duy nhất tôi cảm thấy mình có thể trả lời chắc chắn. Đúng vậy. Nhìn nụ cười ngọt ngào của con gái, nghe con hát trên vai của Jay, ngửi mùi lá mới vẫn còn ẩm ướt từ đêm hôm trước. Đúng thế. Đó là những gì có ý nghĩa để ta tiếp tục sống mà không cần đi tìm những câu trả lời.

ABBY SHER
Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/lam-the-nao-de-giai-thich-voi-con-tre-ve-cai-chet-2941859.html

William-Adolphe Bouguereau ( 1825-1905 ) - The Difficult Lesson, Oil 1884

Đọc câu chuyện trên đây, tôi nhớ đến bé Sarah con gái 3 tuổi của cô em gái lúc mẹ tôi mất. Bình thường bé loanh quanh trong nhà và thỉnh thoảng săn sóc bà ngoại bằng cách gọi người lớn khi phát hiện có con kiến nào đó đang bò đến gần bà, hoặc sau khi cô giúp việc cho bà ăn xong thì cháu đòi giúp bà ngoại uống thuốc. Ngày bà ngoại mất, mẹ cháu cho cháu sang nhà hàng xóm chơi, buổi tối khi về nhà không nhìn thấy bà trên giường nữa, cháu hỏi cô giúp việc: Bà ngoại của con đâu rồi? Không ai dám trả lời câu hỏi của bé. Cô giúp việc nói khe khẽ: Bà ngoại đi chơi rồi con ạ! Nhưng cháu đã phát hiện ra chuyện khác thường với bà ngoại khi thấy nhà có rất đông người đến viếng lễ tang. Cháu từ trên lầu nhìn xuống và lại hỏi: "Có phải bà ngoại đang nằm trong cái hộp đó không? Tại sao ai cũng nhìn vào cái hộp đó?" Mặt cháu có vẻ lo sợ. Cô giúp việc vội đem cháu vào phòng và khóa cửa lại. Những ngày sau thì lại càng khó giấu. Nhà luôn đông người và mọi người trong gia đình đều mặc những chiếc áo "lạ". Có nhiều hoa và nhang đèn. Hình bà ngoại đặt trước cái "hộp". Cháu không chịu qua nhà hàng xóm nữa mà đòi được tham gia với mẹ và các dì cậu vì nghĩ rằng bà ngoại đã ở trong cái hộp ấy. Sau đám tang, cháu nhìn thấy bà trên bàn thờ lúc nào cũng có nhang khói. Mỗi lần có ai đến nhà, cháu kéo tay đến bàn thờ và bảo: Thắp nhang lạy bà ngoại đi! Nhưng cháu vẫn thắc mắc: Bà ngoại đi đâu rồi hở mẹ?

* Nguyễn Diệu Tâm



Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

TỐNG BIỆT


"Lá đào rơi rắc lối thiên thai,
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi"
Tống biệt được trích trong vở chèo Thiên Thai do Tản Đà sáng tác năm 1922. Nội dung vở diễn tích hai chàng thư sinh là Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời Hán, nhân tết Đoan ngọ (còn gọi là tết Đoan dương, ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch), vào núi Thiên Thai (Chiết Giang, Trung Quốc) hái thuốc bị lạc lối về. Hai chàng bất ngờ gặp được tiên nữ, rồi kết làm vợ chồng. Sống hạnh phúc được nửa năm thì cả hai cùng nhớ quê muốn về thăm. Các tiên nữ cho biết đây là cõi tiên, đã về trần thì không thể trở lại, song vẫn không giữ được hai chàng. Lưu, Nguyễn về làng thấy quang cảnh khác xưa, thì ra họ đã xa nhà đến bảy đời. Buồn bã, hai chàng trở lại Thiên Thai, thì không còn thấy các tiên đâu nữa...Kể từ đấy, họ cũng đi đâu biệt tích.
Ở bài Tống biệt, tác giả chỉ nói đến cảnh chia biệt đầy lưu luyến của Lưu-Nguyễn với hai nàng tiên, để qua đó "thầm gửi gắm niềm thương tiếc của mình đối với cái đẹp không bao giờ trở lại"
Tống biệt là bài từ khúc theo điệu Hoa phong lạc, rút từ vở chèo Thiên Thai, có thể coi là một bài toàn bích. Vì đây là vĩnh biệt (từ đây xa cách mãi), cho nên bài thơ có nhịp chân bước quyến luyến mà chậm rãi, dường như ung dung. Văn khí trong thơ thay đổi luôn, câu ngắn thì như nấc như nghẹn, câu dài thì như tiếng than não nuột của một cặp tình nhân chia tay nhau giữ cảnh trời đất mênh mông...
Giới thiệu bài thơ này, thi sĩ Bùi Giáng có lời bình:
"Lá rơi - Hình ảnh của lìa tan, của ly biệt...Người đi. Khách phàm trần đã lên đây, đem lên đây tình yêu của hạ giới, gây bàng hoàng cho lòng xanh tiên nữ, để giờ đây chia biệt, đem tình về hạ giới, cho lòng xanh tiên nữ lại bâng khuâng...Lời tiễn đưa vang nhè nhẹ giữa Đào Nguyên trăng sáng rộng vô ngần. Như hồn xuân đêm yểu điệu. Như ngậm ngùi tình vương vấn thiên thai. Như gió lùa thổi vào tâm hiu hắt...
Sực tỉnh rồi...còn đâu nữa mộng lòng xuân. Nụ hồng giữa vườn xuân không hé phơi lần nữa. Đá mòn. Rêu nhạt. Nước chảy-Huê trôi. Cái hạc bay lên vút tận trời...đem đi mộng cũ của lòng ta...Tình của người lặng đi giữa bốn bề câm nín. Lạnh mang mang vây ám mãi nghìn năm. Đường lối cũ, nơi đầu non cửa động. Trăng chơi vơi còn sáng mãi, hững hờ. Mộng Thiên Thai võ vàng, đã mòn mỏi...
Bài thơ quả là có mang ý nghĩa tượng trưng đó. Tống biệt? Vĩnh biệt Thiên Thai là vĩnh biệt hồn thơ của tuổi mộng-Tuổi mộng không ở mãi với hồn thơ, để thắm mãi giữa đời...."
Nhà nghiên cứu Thạch Trung Giả phân tích:
..."Ngậm ngùi" là nỗi buồn sâu xa thấm thía, tuy không mãnh liệt đốt xét lòng người nhưng dư vang bất tuyệt. Trong cuộc tiễn đưa, bốn người đã ngầm biết không bao giờ gặp lại nên tình cảm của họ lắng sâu như thiên cổ.
"Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai"...
Diễn tả nỗi bàng hoàng của người thấy cuộc vui qua mau như giấc mộng. Trần ai xuất từ kinh Phật ví cõi đời ô trọc và vô thường. Để rồi từ đó mạch thơ chuyển sang thơ "Đá mòn, rêu nhạt/Nước chảy, huê trôi" cốt nói thêm rằng cuộc tan vỡ này không phải là ngẫu nhiên mà là theo định luật chung của vũ trụ. "Cái hạc" không những chỉ chiếc xe tiên mà còn ám tỷ hạnh phúc từ đây hoàn toàn mất hút. Tiếng "thơ thẩn" như tả một người đi lẻ loi. "Bóng trăng" có thể coi như là một linh hồn trầm tư cúi xuống chứng kiến nơi đã ghi dấu một cuộc tình duyên đẹp nhất và cũng bi thương nhất...Về mặt nghệ thuật, chữ dùng tinh vi, gợi cảm đến mức cuối cùng.
( Nguồn: Wikepedia )

Ảnh: Hoa Đào Mùa xuân ( Photo by Tam Nguyen Nguyễn Diệu Tâm )
Mến tặng "động tiên" Việt Hán I ĐHSP Saigon 1973-1977 Nga Le, Vân Đoàn, Kim Loan Tran, Dilinh Dang, Nguyet Nguyen, Tran Thi Cam Hong, Chị Thúy, Bạch Ngọc, Tuyết Lệ, Khánh Hòa, Đoan Trang, Tuyết Mai, Nguyễn Tuy, Hoàng thị Diệu, Hoang Coc, Lê Tuấn, Nguyễn Tùy .... và tất cả các bạn VH 1 năm xưa.
Tống Biệt là bài hát động tiên đã chọn làm "nhạc nền". 

Tống Biệt, Thơ Tản Đà, Nhạc Võ Đức Thu. Ca sĩ Thái Thanh:
http://nhacso.net/nghe-nhac/tong-biet.WFtWUktb.html


Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

CHUYỆN VỀ MỘT CỤ BÀ

Bạn đã bao giờ gặp được một cụ bà 90 tuổi, quắc thước, có đôi mắt sáng, hai bàn tay linh hoạt, đầu óc minh mẫn, trí nhớ tuyệt vời ... nhớ cả hàng loạt số điện thoại, tên khách hàng, địa chỉ giao dịch v.v... Và điều quan trọng là dù nay đã 90 tuổi, cụ vẫn còn điều hành rất tốt việc kinh doanh đã làm trên ít nhất là 60 năm?
Tôi đã gặp được cụ bà ấy ngày hôm qua, trong tang lễ chồng bà.
Lúc tôi đến nơi, cụ đang ngồi trên chiếc ghế thấp trước cửa nhà, nơi tiếp khách đến viếng đám tang. Lưng cụ còng, nhưng dáng cụ ngồi trông vẫn rất khỏe khoắn với đôi mắt sáng. Làm lễ xong, chúng tôi ra ngoài ngồi xuống bên cụ, giới thiệu cho cụ biết chúng tôi là ai, quen biết thế nào với con trai cụ.
Trước đây, em trai tôi thường kể cho gia đình nghe về mẹ của một người bạn, một bà lão đã gần 90 tuổi vẫn làm kinh doanh rất tốt, một tay cụ điều khiển việc mua bán làm ăn từ trước đến nay. Dù ngày nay cụ không cần phải làm gì nữa, vì con cháu đã thành đạt, nhưng cụ vẫn chưa muốn nghỉ. Khách hàng quen thuộc lâu năm vẫn chung thủy với cụ.
Tôi rất ngưỡng mộ cụ bà, thật là một phụ nữ hiếm có.
Hỏi thăm sức khỏe cụ như thế nào, cụ trả lời: Không tim mạch, không huyết áp cao, không tiểu đường v..v.. Vì thế không cần phải uống thuốc.
Hỏi tiếp: Bác có bí quyết gì để giữ được sức khỏe và sự minh mẫn tuyệt vời đến thế ạ? Bác có phải uống sâm, ăn yến, uống thuốc bổ?
Cụ thong thả trả lời:
Không thuốc bổ, không uống sâm, ăn yến! Có lần mua yến cho ông ăn, nhưng ông không ăn, bác ăn, không thích, mà lại ... đắt nữa! 500 ngàn đồng chỉ có 1 lạng!
- Bác có tập thể dục không ạ?
- Có chớ! Sáng nào bác cũng thức dậy lúc 5 g. Đi bộ ra công viên cách nhà chừng 200 m.
Bác cho là nhờ bác còn ... làm việc các cháu ạ!
Tôi đùa: Cháu hiểu rồi, vì bác còn niềm vui làm việc, nhất là bác còn tự tay kiếm ra tiền vào tuổi này, nên bác vui phải không ạ?
Bà cụ reo lên và vỗ vào vai tôi: Đúng rồi! Cháu nói đúng!
Tôi lại hỏi tiếp: Có ai giúp bác trong công việc không?
Trả lời: Chỉ có nhờ con dâu đi thu tiền dùm bác thôi. Còn lại bác làm hết!
- Về thanh toán công nợ, có bao giờ bác gặp khó khăn?
- Có chứ! Có một "thèng", cả năm ni đòi tiền hoài không được!
- Bác giải quyết ra sao ạ?
Cụ vừa nhai trầu bõm bẻm vừa thản nhiên trả lời:
- Thì ... cho "hén" luôn chớ làm răng bi chừ!
Chúng tôi bật cười trước thái độ tỉnh bơ của cụ. Không tiếc, không giận, không cau có.
Đến phiên cô con dâu kể tiếp cho chúng tôi nghe:
- Cũng rất lạ các chị ơi. Buôn bán thì phải có cạnh tranh. Cũng mặt hàng đó, bao nhiêu người bán rẻ hơn mẹ, khách hàng không mua, lại mua của mẹ. Bán sỉ, người khác cho gối đầu, mẹ không cho, họ vẫn mua. Nhưng có khi gặp lô hàng mới giá cao không có lời, mẹ vẫn bán cho khách quen với giá cũ.
Khách đến viếng đám tang vẫn vào ra liên tục. Dường như tôi không thấy cụ bà đau buồn nhiều khi cụ ông bỏ bà ra đi trước. Dường như cụ hiểu phải chấp nhận rằng không sớm thì muộn, không trước thì sau, rồi một trong hai người sẽ là người ra đi trước. Và người ở lại sẽ làm tiếp những việc còn dang dở cho những người thân yêu của mình. Nhìn cụ ông thật đẹp lão trong di ảnh, tôi nghĩ thầm chắc cụ bà cũng có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc? Nếu như vậy thì có lẽ cụ là người phụ nữ hiếm có trên đời này thật.
Nhưng thật ra không hoàn toàn như thế. Cụ là người vợ thứ hai đến với ông. Sau hiệp định Geneve, ông ở lại miền Bắc. 10 năm sau ông cưới người vợ thứ ba. Cụ sống ở miền Nam một mình nuôi con cho đến ngày gặp lại ông sau 1975.
Câu chuyện về cụ làm tôi xúc động và ngưỡng mộ. Tôi tin rằng cụ bà tôi gặp là điển hình của người phụ nữ Việt Nam đảm đang và nhân hậu từng quen với hy sinh và chịu đựng gian khổ trong chiến tranh. Và những đau thương nếu có, người phụ nữ ấy đã nén lại trong lòng chỉ để cho mình mà thôi.

* NGUYỄN DIỆU TÂM

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

CÂU CHUYỆN VỀ BÀI HÁT LES FEUILLES MORTES

CÂU CHUYỆN VỀ BÀI HÁT NỔI TIẾNG: LES FEUILLES MORTES & AUTUMN LEAVES Bản gốc viết bằng tiếng Pháp là " Les Feuilles Mortes " ( “Những Chiếc Lá Úa” ) là lời than thở u sầu tiếc nuối cho một tình yêu đã mất . Bản dịch qua tiếng Anh, " Autumn Leaves ", ( "Những Chiếc Lá Mùa Thu" ) cùng một chủ đề , nhưng cách tiếc nuối thể hiện nhẹ nhàng hơn .
Bài hát có một cuộc đời khá lận đận. Bắt đầu vào năm 1945 là một bài thơ được viết bởi nhà biên kịch và nhà thơ Jacques Prevert như là một phần của kịch bản cho vở ba lê mang tên "Le Rendezvous" ( "Cuộc Hẹn Hò" ) . Hai năm sau, khi đạo diễn Marcel Carné làm một bộ phim ballet, nhà viết nhạc phim người Hungary là Joseph Kosma đã chọn bài thơ của Jacques Prevert làm nhạc nền cho bộ phim. Có lẽ vì bài thơ đã không được sáng tác dưới hình thức bài hát nên cấu trúc hơi khó sử dụng . Kosma đã chuyển bài thơ thành 24 trường canh của đoạn mở đầu, gồm có 2 âm điệu và giai điệu rõ ràng, và tiếp theo là một điệp khúc gồm 16 trường canh ( ½ độ dài của bài hát truyền thống Tin Pan Alley nổi tiếng của Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ). 
Bộ phim của Carné thất bại, nhưng diễn viên chính, một ca sĩ trẻ nổi tiếng tên là Yves Montand, tỏ ra thích "Les Feuilles Mortes" mặc dù không hát ca khúc ấy trong phim, nhưng ông đã đưa vào buổi hòa nhạc của mình. Ban đầu, bài hát chỉ nhận được sự lạnh nhạt. Không theo nhịp điệu, có một cấu trúc quá phức tạp, lại mang một thông điệp u sầu buồn bã … là những điều mà bài hát không được ưa chuộng. Nhưng Yves Montand vẫn tiếp tục hát. Trong vòng vài năm sau, bài hát trở thành nổi tiếng nhất của ông và là bài hát được yêu cầu nhiều nhất .
Trong khi bài hát đã thuộc về Montand , có một phiên bản đáng nhớ bởi một nữ ca sĩ người Pháp, Juliette Greco. Cô ca sĩ bohemien xứ Corse xinh đẹp, một " Little Miss Existentialist”, người theo chủ nghĩa hiện sinh, đã ghi âm bài hát này nhiều lần nhưng phiên bản đầu tiên của Montand vẫn là bản hay nhất. Với giọng hát mơ màng và chậm rãi , cô mang đến cho bài hát một sắc thái đặc biệt quyến rũ, cô hát như không bao giờ còn có thể được yêu mãnh liệt đến thế nữa.
Vào năm 1950 , khi bài hát cuối cùng đã được dịch sang tiếng Anh, chỉ có một phần nhỏ của bài thơ là còn tồn tại ( và rất hiếm khi được hát ). Chủ yếu là tính năng hấp dẫn ở phần điệp khúc. Người viết lời nhạc Johnny Mercer đã tạo ra một vài hình ảnh rung động như "đôi tay bỏng nắng anh dành để ôm em" và “ Bài hát mùa đông năm cũ ”, nhưng trong thực tế, đây là một bài hát hoàn toàn khác với bài thơ của Prevert và bản nhạc mà Kosma đã tạo ra. Trong khi bản gốc đã gom được tất cả sự mê đắm nồng nàn, thì bài hát này chỉ là một phiên bản đính kèm, mang lại vẻ hoài cổ hơn so với cảm giác âu sầu, nhiều buồn vui lẫn lộn hơn là niềm cay đắng xót xa .
Sau khi Nat "King" Cole đã lên vị trí thứ 1 trong cuộc lưu diễn vào năm 1955 đến lượt các ca sĩ của các hộp đêm - từ Frank Sinatra (năm 1957 thu âm trên dĩa Where Are You?) đến Tony Bennett, Eartha Kitt. Chick Corea, Stanley Jordan và Leonie Smith thì hát những phiên bản được cắt bớt gần đây.
Yves Montand tiếp tục hát bản gốc và thu âm cho đến khi ông qua đời vào năm 1991.

* NGUYỄN DIỆU TÂM phỏng dịch
   theo Behind the Song "Autumn Leaves" (performingsongwriter.com/autumn-leaves)
 
Những Chiếc Lá Mùa Thu ( Flower Story/Face Book )

Và những phiên bản:

1/ LES FEUILLES MORTES / AUTUMN LEAVES
Songwriters: KOSMA, JOSEPH / PREVERT, JACQUES ANDRE MARIE / MERCER, JOHNNY
(french lyrics by jacques prévert,
English lyrics by johnny mercer,
Music by joseph kosma)

French: LES FEUILLES MORTES
C'est une chanson, qui nous ressemble
Toi tu m'aimais et je t'aimais
Nous vivions tous, les deux ensemble
Toi que m'aimais moi qui t'aimais
Mais la vie sépare ceux qui s'aiment
Tout doucement sans faire de bruit
Et la mer efface sur le sable les pas des amants désunis

NHỮNG CHIẾC LÁ ÚA
Đó là một bài hát, như chuyện tình đôi ta
Em đã từng yêu anh và anh yêu em
Chúng ta đã sống với nhau, hai ta đã bên nhau
Em đã từng yêu anh và anh yêu em
Nhưng cuộc đời chia rẽ đôi lứa yêu nhau
Thật nhẹ nhàng lặng lẽ
Và biển xanh đã xóa đi trên cát trắng
những dấu chân của đôi tình nhân không bao giờ tái hợp

English: AUTUMN LEAVES
The falling leaves drift by the window
The autumn leaves of red and gold
I see your lips, the summer kisses
The sun-burned hands I used to hold

Since you went away the days grow long
And soon I'll hear old winter's song
But I miss you most of all my darling
When autumn leaves start to fall

NHỮNG CHIẾC LÁ MÙA THU
Những chiếc lá rơi ngoài khung cửa sổ
Những chiếc lá mùa thu đỏ và vàng
Anh thấy đôi môi em, những chiếc hôn mùa hạ
Đôi tay bỏng nắng này anh dành để ôm em

Từ lúc em đi xa ngày trở nên thật dài
Đó là lúc anh sẽ nghe bài hát của mùa đông năm cũ
Nhưng em yêu dấu ơi anh nhớ em hơn tất cả
Khi những chiếc lá thu bắt đầu rơi ...

2/ LES FEUILLES MORTES (DEAD LEAVES)

Music by Joseph Kosma
Lyrics by Jacques Prévert
Translation © 2004 by Jacob Lubliner

Oh! je voudrais tant que tu te souviennes
Des jours heureux où nous étions amis
En ce temps-là la vie était plus belle,
Et le soleil plus brûlant qu’aujourd’hui
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Tu vois, je n’ai pas oublié...
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,
Les souvenirs et les regrets aussi
Et le vent du nord les emporte
Dans la nuit froide de l’oubli.
Tu vois, je n’ai pas oublié
La chanson que tu me chantais.

REFRAIN:

C’est une chanson qui nous ressemble
Toi, tu m’aimais et je t’aimais
Et nous vivions tous deux ensemble
Toi qui m’aimais, moi qui t’aimais
Mais la vie sépare ceux qui s’aiment
Tout doucement, sans faire de bruit
Et la mer efface sur le sable
Les pas des amants désunis.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais mon amour silencieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la vie
Je t’aimais tant, tu étais si jolie,
Comment veux-tu que je t’oublie?
En ce temps-là, la vie était plus belle
Et le soleil plus brûlant qu’aujourd’hui
Tu étais ma plus douce amie
Mais je n’ai que faire des regrets
Et la chanson que tu chantais
Toujours, toujours je l’entendrai!

REFRAIN
Oh, I would like you so much to remember
Those happy days when we were friends, and how
Life in those times was more lovely and tender,
Even the sun shone more brightly than now.
Dead leaves are gathering as in December
You see how one never forgets...
Dead leaves are gathering as in December,
Just like the memories and the regrets.
And then the north wind comes and sweeps them
Into oblivion’s icy night.
You see how I never forgot
That old song that you sang for me.

REFRAIN:

A song like us, birds of a feather,
You loving me, me loving you,
And we lived happily together,
You loving me, me loving you.
But life tears apart gentle lovers
Who quietly obey their heart,
And the sea invades the sand and covers
The footsteps of those torn apart.

Dead leaves are gathering, dead leaves are piling
Up just like memories and like regrets.
But still my love goes on quietly smiling
Thankful for life and for all that it gets.
I loved you so, you were ever so lovely,
How can I forget? Tell me how!
Life in those times was more sweet and beguiling,
Even the sun shone more brightly than now.
You were my most sweet friend and lover,
But regret just isn't my thing,
And I’ll keep hearing all the time
The old song that you used to sing.

REFRAIN

Mời các bạn nghe bản nhạc Les Feuilles Mortes do Yves Montand hát lúc còn trẻ:
https://www.youtube.com/watch?v=JWfsp8kwJto
Và về sau:
https://www.youtube.com/watch?v=cOsVVeojMZs



 

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

TIỂU THƯ

Buổi sáng cuối tuần, còn đang ngái ngủ, tôi nhận được tin nhắn của Rod, một trong những người khách hàng lâu năm: "Tôi vừa đến Việt Nam. Đây là số di động mới của tôi. Hãy liên lạc với tôi qua số này. Rất mong được gặp cô lúc 10 g sáng ở Highland Coffee, phía sau Opera House."
Vẫn như bao nhiêu lần trước mỗi khi Rod qua Việt Nam, thường là vài lần hoặc ít nhất cũng một lần mỗi năm, lần nào qua đến thành phố ông ta cũng liên lạc với tôi ngay lúc vừa đến nơi và hẹn đi ăn trưa. Là một khách hàng từ Canada lâu năm nhất của tôi, quen biết nhau đã lâu, làm ăn với nhau cũng đã lâu, nhưng lạ một điều là tôi cảm thấy mình luôn cảnh giác với ông ta. Khác rất nhiều với những khách hàng khác, Rod luôn có những thái độ đối xử bất nhất với những người có quan hệ với ông ta trong công việc, khi thì thân thiện, tốt bụng hòa nhã rộng rãi và không kém phần từ bi, khi thì lạnh lùng hiểm ác, keo kiệt bủn xỉn. Nhiều lần thấy ông mặc cả tiền xe với người tài xế taxi, hoặc buộc nhà hàng phải trả lại tiền thừa chưa đến 700 đồng, tôi cảm thấy xấu hổ. Ông luôn giải thích: Với tôi, mọi chuyện phải rõ ràng. Tôi không muốn bị ai lừa mình, dù chỉ một xu!
Tôi gặp ông khoảng 10 năm trước, lúc ông đến Việt Nam lần đầu tiên tìm nguồn hàng mua bán. Tôi cũng giới thiệu cho ông một số nhà cung cấp, trong đó có Tuân, chủ một nhà in. Ông rất quý Tuân. Khi nghe tin Tuân mất đột ngột vì tai nạn, ông đã khóc lúc đọc những dòng email tôi gửi báo tin. Lần qua Việt Nam vài tháng sau, ông rủ tôi đi thăm mộ Tuân, cách xa thành phố chừng 30 km. Ông đưa tay phủi những chiếc lá khô rơi trên mộ Tuân, rồi đứng lặng người rất lâu. Trên đường về ông nói với tôi: - Làm ơn tìm cho tôi một người săn sóc mộ Tuân. Tôi sẽ trả tiền để người ấy ngày nào cũng ra đây quét dọn cho mộ Tuân sạch sẽ và chăm sóc những bông hoa.
Ông thuê Hoàng, một người phiên dịch tiếng Anh để giúp ông trong công việc rồi cùng người này đi khắp miền Trung và Bắc tìm nguồn hàng, từ cà phê, trà, gỗ, sắt thép gì cũng làm. Hoàng kể: "Ông ta thật là siêng năng và dẻo dai, với thân hình đồ sộ hàng trăm ký lô thế kia, ông đi rất nhiều, hang cùng ngõ hẹp đều tìm đến, leo lên những ngọn đồi cao miền Bắc thoăn thoắt để mua trà, cà phê, tôi còn chạy theo không lại, chỉ sợ ông ấy to béo quá, có thể bị đứt mạch máu thì khổ!" 
Tôi đến Highland trễ khoảng nửa tiếng vì trên đường kẹt xe do mưa quá lớn. Rod ngồi bàn phía ngoài, gần hàng rào gỗ sơn màu trắng có những chậu hoa màu đỏ.
Tôi gọi một miếng bánh Tiramisu và một tách trà nóng. Vẫn như bao giờ, Rod nói hơi nhiều về chuyện gia đình, chuyện kinh doanh, chuyện thời sự quốc tế ... và tôi chỉ việc ngồi nghe. Quán cà phê càng lúc càng đông khách vì trời lại bắt đầu đổ mưa. Lại một cơn bão về.
- Cô còn nhớ con bé "Tiểu thư" chứ?
Đang im lặng nhìn ra ngoài trời đang mưa, tôi giật mình quay lại. 
- Có, tôi nhớ. 
- Tôi có hẹn với cô bé trưa nay. 
- Sao lần trước tôi nghe ông kể cô bé đã đi Mỹ rồi mà?
- Phải, cô bé ấy được một đôi vợ chồng Mỹ nhận làm con nuôi và bảo lãnh đi cách đây 8 năm.
- Thời gian qua nhanh thật! Vậy bây giờ vì sao "Tiểu thư" lại đang ở Sài Gòn?
- Trước đây, mùa hè nào nó cũng về Việt Nam mà không đi đâu nơi khác dù cha mẹ nuôi sẵn lòng cho nó đi holiday ở nhiều nơi. Khi vừa hoàn tất trung học, nó xin cha mẹ nuôi cho về Việt Nam học tiếp chương trình đại học. Họ đồng ý.
- Thật là lạ! Tại sao cô bé không học đại học bên Mỹ cho có tương lai hơn?
- Vấn đề là cô bé không thể rời xa gia đình. Nó là một đứa con gái tốt, rất thương yêu gia đình của mình.
Mưa càng lúc càng lớn, vì ngồi ngay ở phía ngoài nên mưa tạt vào phía bàn chúng tôi. Rod bảo tôi dời chỗ vào bên trong, nơi có cửa kín và không ai hút thuốc lá nhưng tôi vẫn thích ngồi bên ngoài. Những quán cà phê ngay trung tâm thành phố bây giờ thường có khoảng sân cho khách ngồi nhìn ngắm phố phường, người, xe qua lại vui mắt. Tôi nhìn ra đường, bên phải là khách sạn Caravelle, bên trái là khách sạn Park Hyatt, Continental và con đường chạy qua Nhà hát lớn thành phố là đường Catinat thời Pháp thuộc, mang tên đường Tự Do trước năm 1975 và bây giờ là Đồng Khởi. Vào thời kỳ nào thì con đường này cũng là một trong những con đường "vàng" của thành phố.
Vào thời khách du lịch đổ vào Việt Nam từ những năm 80, vì con đường này là một trong những trung tâm của những cửa tiệm, khách sạn, nhà hàng sang trọng nhất nên lúc nào du khách cũng đông. Du khách càng đông thì những dịch vụ mua bán càng nhiều, không chỉ trong tiệm mà còn tràn ngập đường phố. Một trong những dịch vụ mua bán đường phố này là đội ngũ trẻ em bán báo, sách tiếng nước ngoài, bưu thiếp, bán vé số v.v... cũng đông không kém. Để dễ tiếp cận khách nước ngoài, các em nói tiếng nước ngoài như gió, từ tiếng Anh, Pháp, Nhật, Hoa .., chỉ là những từ học lỏm đâu đó, nói riết rồi thành quen. Nhiều lần đi trên con đường này, tôi gặp những bé gái chừng 9, 10 tuổi, tay ôm cả chồng sách báo. Tôi hay xót lòng nên thường dừng lại mua chút ít gì đó để giúp đỡ. Hỏi về hoàn cảnh thì đa số kể: " Con đi bán hàng nuôi em con!" Hỏi cha mẹ đâu, cháu bảo "Cha mẹ con chết hết rồi!"... Có lúc thì là một bà cụ ngồi bên góc đường với chiếc nón lá rách để ngửa. Cho tiền, hỏi con cái cụ đâu. Bà trả lời: Tui có 3 đứa con trai. Vì con dâu bất nhơn quá không chịu nuôi nên thôi, ra đường kiếm ăn! Có lần một người khách đi cùng tôi nghe tôi kể đã xua tay: Không chắc đó đã là sự thật đâu!
"Tiểu thư" cũng ở trong đội quân trẻ em đường phố đó. Cũng hoàn cảnh tương tự như các em khác. Cha sớm say chiều xỉn, lại còn nghiện ma túy. Mẹ bệnh hoạn quanh năm suốt tháng, phần thiếu ăn nên người xanh xao vàng vọt. "Tiểu thư" là chị lớn của đàn em 3 đứa con trai cũng theo chị mạnh đứa nào bán thứ đó. Cuối ngày về các em nộp tiền cho cha. Cha quăng cho vợ con vài đồng lẻ, còn lại ông trút vào rượu và ma túy. 
Rod gặp "Tiểu thư" trên con đường đó. Còn tôi biết đến cô bé khi Rod viết E-mail nhờ tôi tìm hộ một trường tiểu học nội trú của các ma soeur, và Hoàng thay mặt ông làm người giám hộ cho con bé. Ông từng nói với tôi: "Đó là một đứa bé thông minh, tôi sẽ giúp đỡ cho nó học hành tử tế. Học chữ và học đàn piano".
Vài tháng sau gặp lại Hoàng, cậu ta nói: "Ông Rod nuôi con bé ấy chỉ uổng công! Nó trốn học hoài. Nó quen cuộc sống tự do ngoài đường phố rồi, là một đứa bé bụi đời, giờ ông ta bắt nó phải nhốt mình trong những bức tường và biến nó thành cô tiểu thư nhà giàu, học hành tử tế, đàn piano, làm sao mà được! Trời, "Tiểu thư đường phố"!
Cái tên "Tiểu thư" bắt đầu được chúng tôi gọi từ đó. Có gì đó thật chua xót khi tôi cũng nghĩ như vậy. Tôi từng nói với Rod: Tôi thật lo là ông sẽ uổng công. Con bé như một cánh chim tự do, nay ông nhốt nó vào lồng son, rồi nó sẽ vỗ cánh bay đi thôi. Còn người cha như thế, chỉ suốt đời làm khổ gia đình. 
Nhưng Rod thì cho là nhà trường quản lý không tốt và Hoàng đã làm vai trò giám hộ không hết lòng. Ông nói với tôi: - Khổ cho Tiểu thư là nếu nó phải đi học như vậy thì ai là người kiếm tiền nuôi lão cha già nghiện ngập và bà mẹ bệnh hoạn cùng đám em nheo nhóc đó! Con bé mới 12 tuổi! Nhưng nếu tôi phải giúp cho gia đình nó để nó yên tâm học hành thì không thể được! Tôi không thể bỏ tiền ra để nuôi một tên nghiện!
Giờ đây tôi xúc động vì câu chuyện này. Tôi thấy ân hận vì mình đã có những lúc thoáng qua nghĩ không tốt về Rod, về suy nghĩ và hành động của "Tiểu thư". Tôi cứ tưởng ngày con bé được cha mẹ nuôi giàu có lãnh qua Mỹ, sẽ trở thành một cô tiểu thư thật sự, sẽ được học hành tử tế, rồi tuổi thơ cơ cực sẽ qua, rồi cô sẽ lập gia đình với một chàng trai nào đó, và cùng lắm cô sẽ về thăm gia đình lúc đã có công ăn việc làm ổn định, có tiền đủ để giúp đỡ gia đình. Nhưng không, một cô gái 20 tuổi, rời nước Mỹ và cuộc sống giàu sang của một tiểu thư thật sự để trở về nhà chỉ vì cái gia đình tội nghiệp của mình vẫn còn sống trong cảnh lang thang đầu đường xó chợ. Khi thấy cha mình đêm đêm ngủ ở gầm cầu, nay ở chợ Ông Lãnh, mai chợ Cầu Muối, những con đường Sài Gòn ngày nay càng phát triển thì cầu càng nhiều. Còn mẹ cô từng tha đứa em út ra miền Bắc kiếm ăn, 2 đứa em trai nhỏ còn lại thì đi nhặt ve chai, đói khát là chuyện thường ngày. Bên kia bờ đại dương, "Tiểu thư" ứa nước mắt hàng đêm, tâm nguyện của cô bé là sẽ có một ngày về Việt Nam gom gia đình lại thành một. Chỉ sợ nếu để muộn màng thì không bao giờ cô còn có thể gặp lại gia đình mình nữa. Và vì thế, con chim nhỏ tự do lại thêm một lần nữa, bay ra khỏi chiếc lồng son.
Rod nhìn đồng hồ chỉ 12 g trưa. Ông nhấn phím từ chiếc Black Berry nhắn tin. Rồi đưa điện thoại cho tôi đọc những dòng “Tiểu thư” viết trả lời: "Dad, ở chỗ con trời đang mưa lớn".  – "Cô bé đang ở đâu"? Tôi hỏi. Rod trả lời: – "Tôi không biết. Nhưng tôi bảo con hãy đi bằng taxi đến đây. Ta sẽ trả tiền xe". Tôi nhìn Rod lúc đó đang chăm chú vào điện thoại nhưng toát lên một vẻ thật trìu mến. Khuôn mặt với bộ râu quai nón rậm rạp lùm xùm và cặp kính tròn trễ xuống mũi trông ông giống như ông già Nô-en. Ông có vẻ hạnh phúc vì chữ DAD. Tôi lại nhớ có lần ông kể cho tôi nghe chuyện đời ông 40 năm về trước: “Lúc đó vợ chồng tôi rất nghèo, tôi phải may nệm ghế sa lông bằng tay. Nhưng chúng tôi rất hạnh phúc. Và rồi hạnh phúc đã không còn khi vợ tôi mất vì bệnh ung thư. Một thời gian dài tôi sống trong đau khổ vì mất mát quá lớn. 20 năm sau tôi gặp Christy. Bà ấy có 2 con gái riêng. Người chồng quá ích kỷ và tàn nhẫn nên bà ly dị. Khi tôi đến với bà ấy, tôi đã xem 2 đứa con gái của bà như con của mình. Tôi không có con. Và tôi thèm được làm cha".
- Bây giờ “Tiểu thư” làm gì?
- Con bé đi học đại học, chuyên ngành Quản trị Kinh doanh tại một trường Đại học Quốc tế ở Sài Gòn.
- Tiền đâu để đóng học phí? Trời đất, đắt lắm ông à! Tôi kêu lên.
- Cha mẹ nuôi cho tiền học. Buổi tối nó đi làm thêm kiếm tiền lo cho gia đình. Nó thuê một căn hộ chung cư nhỏ, gom cha mẹ và các em lại. Một đứa con gái mới 20 tuổi đầu mà lo cho cả gia đình như vậy thật là một gánh nặng quá sức. Nó là một thiên thần!
Khoảng vài giây sau, Rod ngoắc gọi tính tiền rồi đứng dậy:
- Thôi tôi phải đi đây. Tôi sẽ gặp Tiểu Thư ở bên kia đường.
Tôi cũng đứng dậy: - Cảm ơn ông đã kể cho tôi nghe câu chuyện này. Tôi thật sự rất cảm động!
Mưa nhỏ hạt dần nhưng khi bước ra đường vẫn bị ướt. Tôi mượn ở quán cà phê cây dù để đưa Rod đi qua đường rồi ông đi dọc theo con phố dưới những mái che. Tôi định nói với ông cho tôi gặp cô bé xem bây giờ con bé ra sao, nhưng rồi lại thôi. Cũng hơn 8 năm rồi tôi không gặp từ buổi tiệc bên hồ trong ngôi biệt thự Rod thuê ở khu Thảo Điền, Thủ Đức. Đêm hôm đó nhân dịp mẹ và Christy, vợ ông qua Việt Nam dịp Giáng sinh, Rod đã tổ chức party và mời nhiều bạn bè đến, có cả người nước ngoài và Việt Nam. Ông còn nói với tôi: Có lẽ chưa bao giờ mẹ con nhà "Tiểu thư" được tham dự buổi tiệc như thế này. Tôi muốn họ được biết đến tiệc Giáng sinh ít nhất là một lần trong đời. Lúc đó con bé chừng 12 tuổi, gầy nhom, nhỏ xíu, tôi chỉ còn nhớ mang máng nó có đôi mắt linh hoạt, ngồi cùng người mẹ gầy gò và 3 đứa em trai nhỏ khá quậy phá đêm hôm đó.
Khi quay trở về quán cà phê, trời vẫn còn mưa. Tôi đứng chờ cho mưa tạnh hẳn. Những bông hoa màu đỏ bên hàng rào gỗ sơn trắng trở nên tươi tắn hơn trong mưa. Tôi nghĩ đến cô bé Tiểu Thư, cuộc đời còn dài lắm. Em chỉ mới 20 tuổi. Rồi em sẽ làm gì, sẽ là ai trong ngày mai? Em sẽ tiếp tục sống ở đất nước này để đùm bọc cho gia đình em suốt đời hay khi họ tự ổn định cuộc sống được rồi em sẽ ra đi? Tôi có hỏi Rod câu này nhưng ông cũng lắc đầu: - Tôi không biết rồi cha mẹ con bé có khác hơn không chứ bây giờ họ vẫn sống hoàn toàn dựa vào nó. Nó tạo cho mẹ một tủ nhỏ bán thuốc lá trong khu chung cư nhưng hình như bà ta cũng chẳng làm được gì. Còn người cha, thật vô phương! Tôi cũng không biết phải khuyên nó như thế nào khi đã khuyên nó cách tốt nhất có thể, nhưng con bé vẫn lặng thinh làm theo ý mình. Chỉ mong rồi đây cuộc đời con bé sẽ sáng sủa hơn và gia đình nó hiểu được đứa con gái bé bỏng này đã thương yêu họ và hy sinh như thế nào.
Tôi vẫn chưa gặp lại Tiểu Thư, nhưng tôi đã hình dung ra em, một thiên thần có đôi cánh bé nhỏ.
Ngoài trời, mưa vẫn rơi...


Tháng 10, 2013
NGUYỄN DIỆU TÂM

Tranh của họa sĩ Ou Chujian CN