Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Những Ngôi Chùa Huế và Chuyến Hành Hương Về Quê Mẹ

Tôi lại trở về Huế vào mùa thu. Mùa thu năm nay có nhiều đổi thay lớn đối với gia đình tôi. Đau buồn nhất là mẹ đã qua đời và mục đích để chị em chúng tôi trở về thăm quê mẹ lần này là đi chùa cầu nguyện cho mẹ trong vòng 49 ngày sau khi mẹ mất. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đây là cũng một dịp may không dễ có để tôi được viếng thăm những ngôi chùa Huế cổ kính trong đó có những ngôi chùa mà tôi từng mong muốn được đến nhưng chưa thực hiện được vào những năm trước.
Cúng thất đầu cho mẹ xong, chị em chúng tôi lên đường ngay buổi trưa ngày 17 tháng 7. Trước khi đi tôi có hỏi một số bạn người Huế xem có thể cho tôi biết một số địa chỉ chùa hay không? Anh bạn SG trả lời hãy để tùy duyên, và tôi nghĩ tùy duyên thật. Vì vậy lúc ra đi trong đầu tôi chỉ nhẩm nhớ đến một vài ngôi chùa Huế mà tôi đã biết, còn thì đành để đi đến đâu hay đến đó.
Sân bay Huế đang sửa chữa nâng cấp đến cuối tháng 9 mới xong. Chúng tôi phải bay ra Đà nẵng rồi thuê xe đi vào Huế. Quyết định chỉ trong vòng 1 buổi sáng, chúng tôi vào mạng đặt mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn ở Hội An, Huế và Đà nẵng.
Tất cả đều được xác nhận rất nhanh trong buổi chiều trước ngày đi. Tuy nhiên vì chỉ lưu lại Huế 2 đêm, tôi không hy vọng lắm là chị em chúng tôi sẽ viếng được nhiều chùa. Tôi nói với các em trường hợp không đủ thời gian thì cố gắng ít nhất cũng phải đi viếng cho được 10 cảnh chùa.
Xứ Huế, quê mẹ tôi có rất nhiều chùa. Người địa phương bảo có đến 230 ngôi chùa lớn nhỏ. Một con số không nhỏ nơi chốn kinh thành còn rất nhiều lăng tẩm vua chúa, di tích cổ! Trên đường đi từ Đà Nẵng ra Huế, tôi nghe nói vùng biển Lăng Cô có rất nhiều chùa, nhưng khó vì không biết những ngôi chùa này nằm ở đâu. Thời gian quá ngắn không đủ cho chúng tôi đi tìm. Ngồi trên xe, em tôi lấy được từ tin nhắn của một cô bạn thường ra Huế làm từ thiện, cho biết một vài địa điểm cô nhi viện và viện dưỡng lão.
Ngôi chùa đầu tiên chị em tôi đến vào buổi trưa ngày 18 tháng 7, là chùa Từ Đàm. Trong ký ức ngày còn thơ của tôi hơn 45 năm về trước, là một ngôi chùa lớn và đẹp, lúc nào cũng đông khách thập phương, khói nhang nghi ngút, giờ đây vắng lặng vì trong mùa an cư.
Đây là một ngôi chùa cổ danh tiếng của Huế, tọa lạc tại số 1 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế.  Từ cổng vào, có một bảng đá khắc lịch sử của ngôi chùa, do Thiền sư Minh Hoằng - Tử Dung khai sơn vào khoảng năm 1690, vào thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Sau đó được đặt tên là chùa Ấn Tôn với ý nghĩa là "lấy sự truyền tâm làm tông chỉ". Đến năm 1841, vua Thiệu Trị đổi tên chùa Ấn Tôn thành Từ Đàm, do kiêng tên húy của nhà Vua là Miên Tông, với ý nghĩa là "đám mây lành của Phật pháp".
 
Chùa Từ Đàm - Huế, khai sơn vào khoảng năm 1690

Vẫn còn đang trong tháng 6 âm lịch, mùa an cư kiết hạ của quý tăng ni  bắt đầu từ sau lễ Phật Đản rằm tháng 4 và kết thúc vào dịp lễ Vu Lan rằm tháng 7 nên chùa vắng vẻ, cửa chính điện đóng chặt nên chúng tôi phải vào lễ Phật bằng cửa sau. 
Lúc ban đầu hơn 330 năm về trước, chùa Từ Đàm chỉ là tịnh thất nhỏ làm bằng cây lá, sau nhiều lần trùng tu mới được như ngày nay.
Cổng tam quan được xây dựng năm 1965. Bên phải sân từ cổng vào là cội bồ đề có nguồn gốc từ cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng tại Ấn Độ ( nơi Phật Thích Ca thành đạo). Bên trái sân là tháp Ấn Tôn 7 tầng, cao 27 m, mỗi tầng thờ một tượng Phật bằng đồng, khởi công năm 2008.

Chánh điện được tái thiết từ năm 2006 đến 2010 mới khánh thành. Công trình mới có chiều dài 42 m, chiều ngang 35,9 m, được kiến trúc theo mô hình trùng thiềm điệp ốc, gồm ba gian hai chái, và hai bên có lầu chuông, lầu trống, theo kiểu kiến trúc truyền thống của chùa Huế. 
Lễ Phật xong, chúng tôi đi dạo quanh chùa. Mùi thơm của hoa trong vườn chùa thoang thoảng trong gió. Phải nói rằng kiến trúc chùa Từ Đàm rất đẹp và mỹ thuật, không rườm rà nhiều chi tiết. Điện Phật trong chính điện được bài trí tôn nghiêm, nhưng đơn giản. Chính giữa chỉ thờ duy nhất một tượng Phật Thích Ca, hai bên có phù điêu hai vị Bồ tát là Văn Thù Sư Lợi ( thường thấy tượng ngài cưỡi con sư tử ) và Phổ Hiền ( cưỡi voi trắng 6 ngà ). Phía trên chánh điện có treo tấm biển sơn son thiếp vàng đề ba chữ Hán: "Ấn Tông Tự".
Rời chùa Từ Đàm, xe chúng tôi chạy ngang qua chùa Báo Quốc, chỉ cách chùa Từ Đàm hơn trăm thước. Anh tài xế hỏi chúng tôi có muốn ghé không? Tôi gật đầu, bảo nhớ lúc nhỏ chị em tôi đã được cùng mẹ đi rất nhiều chùa, và chùa Báo Quốc là một trong những nơi mẹ đã dắt chúng tôi đến.

Chùa Báo Quốc - Huế, thành lập năm 1674

Đây cũng là một ngôi chùa cổ có lịch sử hơn 339 năm, tọa lạc trên đồi Hàm Long trên đất xưa gọi là làng Thụy Lôi. Chùa do Hoà Thượng Giác Phong, người Quảng Đông, Trung Quốc, khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới đời vua Lê Dụ Tông và đặt tên là Hàm Long Tự. Sau đó Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ Báo Quốc Tự vào năm 1747. Cổng chùa xây năm 1749. Hiện nay vẫn còn tấm biển thếp vàng và những bức liễn từ thời ấy. 
Chúng tôi bước vào một cái sân rộng và rừng cây thâm u. Nắng chiều nhợt nhạt và bầu trời trĩu nặng như sắp đổ mưa làm cho cảnh chùa càng thêm tĩnh mịch. Cũng như chùa Từ Đàm, chính điện chùa Báo Quốc cũng đóng cửa. Chị em tôi đi qua sân thì thấy phía sau chính điện là một vườn hoa, cây kiểng đẹp. Một vị sư niềm nở mở cửa cho chúng tôi vào. Xong sư mời chúng tôi ngồi uống trà và hỏi chị em tôi từ đâu đến. Hóa ra đó là thầy trụ trì chùa, và ngạc nhiên hơn nữa là khi đọc tên cha mẹ chúng tôi nhờ chùa cầu siêu thì sư thầy cho biết 46 năm trước thầy đã gặp cha tôi. Sư thầy vui vẻ kể lại một vài kỷ niệm với cha tôi ngày ấy, còn chúng tôi thì thấy trong lòng vui sướng như được gặp lại người thân quen cũ, được trở lại quá khứ cùng cha mẹ đi lễ chùa. 
Lại hỏi sư thầy xin thầy cho biết một số ngôi chùa gần đây. Thầy cho biết có chùa Thiên Minh và Từ Hiếu.
Thế là chúng tôi đi tiếp. Cách đó không xa, sừng sững cổng tam quan chùa Thiên Minh. Cổng chùa, dọc bờ tường theo lối vào được khảm bằng sành sứ theo cách trang trí nghệ thuật cung đình Huế.

Chùa Thiên Minh - Huế, thành lập vào đầu thế kỷ 20

Chùa được xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Tọa lạc tại ấp Trường Giang, nay thuộc phường Trường An, Huế.
Chùa bắt đầu khởi sắc khi ngài Quảng Lộc được cử về làm trụ trì năm 1930. Ngài là đệ tử của ngài Giác Bổn, chùa Từ Quang, thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43 và dòng thiền Liễu Quán đời thứ 9. Sau đó nhờ công đức của ngài Khế Chơn, vị kế thế trụ trì, chùa trở thành một ngôi chùa uy nghiêm.
Chùa Thiên Minh cũng mới được trùng tu. Như nhiều ngôi chùa Huế khác, trước chính điện chùa có một khu vườn cây kiểng đẹp và quanh chùa trồng nhiều cây ăn trái. Tại đây có một vị sư trẻ tiếp đón chúng tôi và nhiệt tình dẫn đường mời chúng tôi đi viếng Tượng đài Quan Thế Âm Bồ tát ở núi Tứ Tượng, thôn Bằng Lãng, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, cách chùa chừng hơn 10 km, nơi có tiếng linh thiêng và cách tuần rồi nghe đồn tượng Bồ tát tỏa ánh hào quang. 

Tượng đài Quán Thế Âm Bồ tát

Tượng đài Bồ tát nằm trên ngọn đồi, chung quanh quang cảnh núi rừng thật thơ mộng. Về phía Tây, ráng chiều sắc tím đỏ còn vương trên những rừng cây trùng trùng điệp điệp xa xa bao quanh càng tăng thêm vẻ đẹp thiên nhiên có phần huyền bí. 
Cũng trong buổi chiều đầu tiên đến Huế, từ tượng đài Quán Thế Âm Bồ tát, chúng tôi đi về lại thành phố và ghé chùa Từ Hiếu ở chặng cuối ngày.
Nghe danh tiếng chùa Từ Hiếu đã lâu, hôm nay tôi mới được đặt chân đến. Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hoá và lịch sử của cố đô Huế. Chùa tọa lạc ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, nằm khuất trong một rừng thông, khuôn viên rộng chừng 8 mẫu, trước có khe nước uốn quanh, khung cảnh thơ mộng. Ban đầu là am An Dưỡng do Hòa thượng Nhất Định dựng vào năm 1843 để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già. Vốn là một vị vua rất hiếu thảo với mẹ, Vua Tự Đức cảm phục tấm lòng của sư Nhất Định đã ban cho chùa tấm biển "Sắc tứ Từ Hiếu Tự". Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Sau khi Hòa thượng viên tịch, vào năm 1848, các vị thái giám và cung giám đã tổ chức tái thiết, mở rộng ngôi chùa. Đây cũng là nơi trực tiếp hoặc gián tiếp tác thành các bậc tăng tài và thiền sư nổi tiếng từ xưa đến nay.

Chùa Từ Hiếu - Huế,

Trước cổng chùa có ngôi tháp cao 3 tầng được xây dựng vào năm 1896 dùng làm nơi tàng trữ kinh tượng theo sắc chỉ của nhà vua. Từ cổng bước vào là một hồ bán nguyệt lớn xây vào năm 1930 trước thả hoa sen, hoa súng, nay còn nuôi thêm cá cảnh. Chung quanh là một khu vườn lớn trồng nhiều cây to tàng lá rậm rạp, thấp thoáng vài ngôi mộ cổ, miếu thờ. Vì đã chiều lại trong mùa an cư, khách đến viếng chùa giờ này không có ai ngoài chị em chúng tôi. Bước đi của người cũng khe khẽ trên lá khô như sợ làm động chốn thiền môn. Từng đàn cá quẫy đuôi ngoi lên lặn xuống khuấy động mặt hồ lẫn tiếng chim kêu đâu đó từ bìa rừng là tiếng động của thiên nhiên trong cảnh chùa yên tĩnh này.
Cấu trúc chùa theo kiểu ba căn hai chái, trước là chính điện thờ Phật, sau là nhà Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu Đường, giữa thờ đức thánh quan, bên phải thờ các vị Thái giám dưới triều nhà Nguyễn từ đời Vua Tự Đức đến đời Vua Bảo Đại. Ở khu nhà hậu có án thờ Tả quân Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông. Nội viên chùa có mộ tháp của các sư trụ trì, khá nhiều lăng mộ các vị phi tần của các chúa Nguyễn và lầu bia rất đẹp. Cách chùa chừng 300 m là khu lăng mộ các quan thái giám, bao quanh là tường cao phủ rêu phong tuế nguyệt. Nhìn tia nắng cuối ngày hiu hắt còn vương trên những ngôi mộ cổ hàng trăm năm đã nhuốm màu hoang phế, tôi chợt nghĩ về những linh hồn từng dâng hiến tuổi xuân xanh và cả cuộc đời cho hoàng triều một thưở, khi mất đi không con cái nối dõi tông đường thờ cúng, được nương mình nơi cửa Phật hưởng hương khói nhà chùa cũng ấm áp phần nào.
Tuy nhiên, tôi cũng nghe nói rằng triều Nguyễn có khoảng 200 thái giám nhưng chỉ có 25 ngôi mộ nằm tại nơi đây, còn lại không biết về đâu. Đây là ngôi chùa được xem như là ngôi chùa duy nhất đã đón nhận những con người bất hạnh cô đơn khi sống, không thừa tự khi chết này.
Chúng tôi rời chùa Từ Hiếu khi màn đêm dần buông. Có tiếng côn trùng nỉ non trong bóng chiều tà. Cảnh chùa càng thêm tịch liêu trầm mặc.
Ngày hôm sau là một ngày đi liên tục từ sáng đến chiều tối. Chúng tôi ghé chùa Đức Sơn vào đầu ngày. Đây là một ngôi chùa sư nữ ở xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, gần lăng Thiệu Trị, được thành lập năm 1964. Năm 1988 chùa mở cơ sở nuôi trẻ mồ côi lẫn trẻ em trong vùng. Cho đến năm 2002 chùa đã nhận nuôi hơn 120 trẻ em mồ côi. Tất cả nhờ vào kinh phí đóng góp của những tổ chức từ thiện, các nhà hảo tâm ở trong và ngoài nước. 

Chùa Đức Sơn - Cô nhi viện Đức Sơn
  
Tổng số hiện nay là 165 em: 81 nam 84 nữ. Trước đó chùa đã nuôi 300 em, hơn một nửa đã trưởng thành và có công ăn việc làm tử tế. Ni sư Thích nữ Minh Tú cho biết gần đây chùa có tổ chức quán cơm chay để có thêm thu nhập. Các em đã ra đi làm vẫn thường xuyên trở về phụ chăm sóc các em bé hơn. Nhìn các cháu bé dưới 1 tuổi ngồi buồn rầu trong các giường sắt thật đáng thương. Có cháu chừng 10 tháng đã cố đứng dậy níu song sắt đu ra ngoài đòi bế. Tôi cúi xuống bế cháu lên, cháu úp mặt vào lòng tôi ôm cứng không chịu rời. Lúc chia tay cháu khóc nức nở thật tội nghiệp. Đứa trẻ nào trong hoàn cảnh nào cũng cần cha mẹ và người thân yêu chiều nó. Tôi nghĩ, bất hạnh nhất trên đời của kiếp người là cha mẹ không còn khi sinh ra, hoặc bị bỏ rơi lúc chào đời không được hưởng sự ấm áp và tình yêu của lòng mẹ, sự chăm sóc dạy dỗ bảo ban của cha. Tôi hỏi Sư cô nếu có ai đó muốn nhận các cháu làm con nuôi thì như thế nào? Sư cho biết nhiều người muốn xin con nuôi nhưng hiện nay việc xin con nuôi rất khó vì phải xem xét rất kỹ sợ cho không đúng người. Các em lớn hơn thì không muốn cho ai, vì sống đùm bọc với nhau trong hoàn cảnh này, các em thương yêu nhau như ruột thịt không muốn chia lìa. 
Chùa còn có 1 phòng nuôi trẻ sơ sinh và 1 phòng cho các em bệnh tâm thần. Trong hành lang, có mấy cô gái trẻ người Pháp thường đến Cô nhi viện để săn sóc các em. Có cô gái tuổi chưa đến đôi mươi ngày nào cũng đến để bồng bế các em bé. Một cô gái cho biết trong 4 tuần đến Việt Nam du lịch thì cô đã bỏ ra 3 tuần để đến với các em vì các em rất cần tình thương. Thật là những tấm lòng vàng. 

Chùa Tịnh Đức - Nhà Dưỡng lão Tịnh Đức

Rời cô nhi viện Đức Sơn, chúng tôi đến chùa Tịnh Đức - Nhà Dưỡng Lão Tịnh Đức, Huế. Gần 24 năm nay, chùa Tịnh Đức ở phường Thủy Xuân- TP Huế là nơi nuôi dưỡng các cụ bà neo đơn bất hạnh, không nơi nương tựa. Vào đây, các cụ được chăm sóc sức khỏe và ăn uống đầy đủ. Đến khi các cụ nhắm mắt xuôi tay, nhà chùa lại tận tâm chôn cất và thờ cúng.
Khu vực chôn cất các cụ bà nằm ở một khu đất riêng cạnh chỗ an nghỉ của các ni sư đã quá vãng của chùa Tịnh Đức. Có gần 20 ngôi mộ, tất cả được xây cất và có bia đá khắc ghi tên tuổi, quê quán và ngày mất. 
Hiện chùa Tịnh Đức đang nuôi dưỡng 32 cụ bà, trong đó có 3 cụ trên 90 tuổi, 7 cụ bị tàn tật. Các cụ được ở trong những căn phòng sạch sẽ, mỗi phòng có 3 hoặc 4 cụ. Khi đến, có một cụ bà đang ngồi cầm chiếc chổi nhỏ quét hành lang ngay trước phòng mình. Cụ cắm cúi quét, không để ý đến ai. Trong phòng, các cụ ngồi nhìn ra, chắp tay chào. Sư cô cho biết: "Ban đầu nhà chùa đi tìm các cụ có hoàn cảnh neo đơn, không con cái nuôi dưỡng, đón về chăm sóc mà không cần giấy tờ. Nhưng về sau lại có nhiều trường hợp con cái hoàn cảnh khó khăn cũng muốn đưa mẹ vào đây, nhà chùa tôi buộc phải có hồ sơ lý lịch rõ ràng, vì không muốn vô tình làm cho các con của họ mang tội bất hiếu không nuôi dưỡng cha mẹ".
 
Chùa Diệu Viên - Nhà Dưỡng lão Diệu Viên


Một ngôi chùa sư nữ kế tiếp là chùa Diệu Viên - Nhà Dưỡng lão Diệu Viên ở xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, trên triền núi Ngũ Phong. Chùa do cư sĩ Hồ Thị Thể Anh, Nguyễn Thị Khương và một số Phật tử lập ra vào năm 1924 và mời sư bà Hướng Đạo làm vị khai sơn. Chùa được trùng tu nhiều lần và trở thành một cảnh trí trang nghiêm, thanh tịnh. Chùa có khoảng 40 ni sư và hiện đang nuôi dưỡng chăm sóc 23 cụ bà.
Khi đến đây cúng dường, chúng tôi may mắn được sư bà mời ở lại dùng cơm chay và dự lễ qua đường, hồi hướng cho mẹ chúng tôi. Đó là một phước báu rất lớn do nhân duyên mà được có. Chị em chúng tôi rất xúc động vì không ngờ và cũng không biết trước chuyện này. Cùng lúc đó, vị sư trẻ ở chùa Thiên Minh lại gọi điện thoại mời chúng tôi có tiện đường thì ghé qua chùa, quý thầy mời dự lễ qua đường ở đó nhưng chúng tôi cảm ơn vì đang trên đường đi tiếp đến nhà nuôi dạy trẻ mồ côi Ưu Đàm, theo hướng dẫn của một cô bạn.

Chùa Ưu Đàm - Nhà nuôi dạy trẻ Ưu Đàm

Chùa Ưu Đàm cũng là một nơi đến gây nhiều ấn tượng cho chúng tôi. Chùa ở xã Vinh Vệ, Phú Mỹ, Phú Vang, Thừa Thiên - Huế. Ni sư Phước Thiện, là P. Trưởng ban Điều hành. Trung tâm nuôi dạy hơn 40 cháu mồ côi đủ loại tuổi từ sơ sinh đến thiếu niên Vậy mà chỉ thấy có ni sư Phước Thiện, một ni sư khác cùng 2 cô nhà bếp chăm sóc. Khi chúng tôi đến vào giấc trưa, các em đang ngủ. Chúng tôi đi thăm một vòng, từ phòng ăn, bếp núc, phòng ngủ đến phòng vệ sinh đều sạch sẽ tươm tất thật đáng nể phục. Ni sư kể đã đi nhặt từng em bé lang thang ngoài đường về đây, tạo cho một gia đình có anh có em, dạy dỗ học tập. Có một số em từ nhỏ đã muốn đi theo con đường tu hành thì ni sư cho xuất gia, nhà chùa có phòng và bếp ăn chay riêng cho các cháu.
Vị trí chùa khá xa thành phố, nơi hẻo lánh ít người biết đến nên ni sư có vẻ ngạc nhiên hỏi sao chúng tôi biết đến nơi này. Tôi có hỏi hiện nay nhà nuôi trẻ cần thiết điều gì nhất thì ni sư nhỏ nhẹ trả lời: "Huế hay bị thiên tai. Vào mùa bão lụt, nước lụt dâng cao cả thước, chỉ lo cho các em thiếu thực phẩm". Nghe câu này lòng tôi nhói đau. Huế còn nghèo lắm, những con người có tấm lòng vàng như thế này đã làm gì để có thể đùm bọc nuôi dưỡng các em? Chúng tôi liền để lại thông tin liên lạc, mong lúc khó khăn nhất nhà chùa có thể cho biết. Nếu có thể làm được gì thì chúng tôi sẽ sẵn lòng.
Rời chùa Ưu Đàm, tiện đường chúng tôi ghé viếng lăng Vua Tự Đức rồi đi tiếp đến Huyền Không Sơn thượng. Đã một năm từ khi tôi đến thăm Huyền Không Sơn thượng và viết "Lạc Bước Rừng Thiền" (*), nay trở lại thấy có nhiều thay đổi. Con đường đi vào chùa Huyền Không đã được tráng nhựa, đỡ vất vả hơn cho việc đi lại, và cảnh chùa có vẻ nhộn nhịp hơn, đông du khách hơn trước. 

Huyền Không Sơn Thượng

Ngôi chùa cuối cùng trong ngày là chùa Thiên Mụ. Xe chúng tôi đi vòng ra ngã sau vì phía trước lúc nào cũng đông nghịt khách du lịch. Ngày còn bé, đây là ngôi chùa mà chị em tôi được đến nhiều nhất do cha mẹ và cả gia đình tôi đều được quy y với Cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu. Nay trở về được lễ Phật và vãn cảnh chùa, tôi lại nhớ đến những ngày tuổi nhỏ lúc gia đình tôi ngồi vây quanh Hòa Thượng trụ trì. Môi nở nụ cười hiền từ, người đưa tay xoa đầu chúng tôi. Mẹ bảo được Ôn xoa đầu thì học giỏi lắm!
Đó là một buổi chiều trời nắng đẹp, đã hơn 4 giờ chiều mà nắng còn rực rỡ chói chang. Đi dạo trong sân chùa thoang thoảng mùi hương kỷ niệm, tôi lại tưởng như nhìn thấy bóng hình cha mẹ mình đâu đây.
Khác với những cảnh chùa cổ u buồn đã đi qua, chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, ở một vị trí rất đẹp và thơ mộng bên dòng Hương giang, xa xa là dãy núi Ngự Bình. Những cành phượng đỏ nghiêng soi bóng xuống dòng nước nơi có những chiếc thuyền trôi lờ lững.
Từ một huyền thoại có bà lão áo đỏ thường hiện ra trên đồi báo tin sẽ có chân chúa xuất hiện để tụ linh khí, làm bền long mạch cho nước Nam hùng mạnh, vào năm 1601 chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng chùa đặt tên là Thiên Mụ cũng vì lẽ đó.

Chùa Thiên Mụ, Huế - Xây dựng vào năm 1601

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng gắn liền với chùa Thiên Mụ, được xây dựng vào năm 1844 dưới đời Vua Thiệu Trị, cao 21 m và gồm 7 tầng, mỗi tầng đều có thờ tượng Phật.
Nói đến chùa Thiên Mụ, trong dân gian đã nối tiếng câu ca dao:
"Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương"...
Câu ca dao trên vừa nói lên cảnh đẹp của đất thần kinh, vừa tả được tiếng chuông chùa Thiên Mụ vì đặc biệt khác thường. Chùa có 2 cái chuông, một chuông đúc vào năm 1710 và một vào năm 1815. Chiếc thứ hai được dùng để giữ nhịp thời gian, ngày đánh 2 lần, mỗi lần 108 tiếng đánh trong 60 phút để xóa tan 108 nỗi phiền muộn của thế gian. Giai thoại kể lại rằng Cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là một thiền sư gắn liền với hạnh nguyện đánh chuông nhiều nhất, lúc sinh thời hằng ngày lúc 3:30 sáng ngài vẫn dậy sớm đánh chuông. Tiếng chuông do ngài đánh có âm thanh vang vọng thanh thoát vô cùng. Tiếng chuông rất thanh và vang xa, do được đúc bằng đồng theo kỹ thuật truyền thống hoàn hảo, chuông lại được đặt trên đồi, đặc biệt được chuyển tải bằng công phu thiền định và hạnh nguyện từ bi của các bậc chân tu nên càng mang âm sắc vi diệu khó tả.
Kể từ khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa, chùa Huế phát triển mạnh nhất từ đời Vua Gia Long đến đời Vua Duy Tân. Rất nhiều tượng Phật, chuông, khánh đồng, đá, và nhiều pháp bảo, văn vật khác của Phật giáo từ thời Vua Lê chúa Trịnh đến đời nhà Nguyễn còn được các chùa Huế bảo tồn, là một kho tàng của văn hóa Phật giáo Huế.
Sau nhiều đợt trùng tu, tái thiết, xây dựng mới, chùa Huế quy tụ hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ. Tôi không biết con số mà một chị bạn gốc Huế cho biết là Huế có tất cả 230 ngôi chùa có đúng không vào thời điểm hiện tại, hay người ta đã đếm tất cả kể cả những ngôi chùa cổ hoang phế và mất dấu rồi? Theo một thống kê, tổng số chùa khắp cả nước là 14.775 ngôi chùa, chiếm 36% tổng số di tích của Việt Nam. Chùa ở đây được kể đã bao gồm chùa Phật, chùa thờ thần, thờ các vị thiền sư như Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Trần Nhân Tông, Lý Thần Tông; thờ Tam giáo ( Nho, Phật, Lão ), thờ Trúc Lâm tam tổ, chùa người Hoa, chùa người Kh'mer ở miền Tây Nam bộ v.v.... Ngoài những ngôi chùa cổ danh tiếng ở Huế mà chúng tôi đã đến được trong chuyến đi này như chùa Thiên Mụ, Báo Quốc, Từ Đàm, Từ Hiếu, Thiên Minh ... còn có nhiều ngôi chùa khác như chùa Diệu Đế, Phước Thọ Am, Trúc Lâm, Từ Ân ... cũng đều có lịch sử xây dựng từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn tồn tại. Đặc biệt có đến hàng trăm ngôi chùa vùng núi đồi mạn Nam sông Hương thuộc dòng sư Liễu Quán, Tổ của phái Thiền Lâm Tế Tử Dung - Liễu Quán mà tổ đình là Chùa Thuyền Tôn, được thành lập khoảng năm 1708 cũng từ một am mái lá ở núi Thiên Thai, nay thuộc Ngũ Tây, xã Thủy An. Riêng một số chùa cổ như Sùng Hóa, Kim Quang, Tây Thiền, Huệ Minh, Trấn Hải, Bạch Vân, Diên Thọ, Linh Hựu, Ngọc Sơn về sau đã bị bỏ phế, hoang tàn rồi mất luôn dấu tích xưa.
Tôi chưa có cơ hội đi thăm các chùa miền Bắc, nhưng tôi rất thích nét tạo hình tượng Phật và La hán của miền Bắc. Sống ở đất phương Nam, tôi từng có nhiều lần viếng các chùa Phật, chùa Ông, chùa Bà, đền thánh Trần, các ngôi đình thần v.v... từ miền Đông đến Tây Nam bộ, giờ đây được thăm thêm nhiều chùa Huế nên dễ dàng nhận ra những nét khác biệt. Nét quen thuộc trong kiến trúc chùa Huế với đặc điểm chung là không đồ sộ, có thể có vườn rộng nhưng nếp chùa Huế mang đặc trưng truyền thống ngôi chùa Việt Nam, tinh tế, không khoa trương rườm rà, bình dị, gần gũi với dân gian. Chính điện thường có từ 3 đến 5 gian, 2 chái, mái 2 tầng nhẹ nhàng, thanh thoát. Vườn chùa thường trồng cây ăn trái, cây cho hoa và cây kiểng được chăm sóc đẹp đẽ. Tháp mộ các vị Tổ, trụ trì, tăng chúng, được bố trí quanh vườn. Phía sau thường là khu canh tác, trồng hoa màu rau quả. Nội thất chùa bình dị, cân đối và không trang trí sặc sỡ. Trong chính điện trước Tam Thế Phật đặt thêm tượng Phật Thích Ca, gian trái thường có Bồ tát Địa Tạng, gian phải là Bồ tát Quán Thế Âm, tả hữu có Kim Cang, Hộ Pháp.
Cách kiến trúc chùa viện theo kiểu chữ Hán như chữ khẩu, chữ nhất, chữ tam, chữ liễu. Tiền đường, điện thờ theo kiểu nhà trùng lương đặc trưng của chùa Huế. Nóc chùa thường chạm khắc hình đôi rồng chầu mặt trăng hay chầu Pháp luân, hoặc hình ảnh tứ linh như long, lân, quy, phụng và các kiểu hoa sen. Mái lợp ngói âm dương như kiểu kiến trúc cung đình. Nhìn chung, đa số chùa Huế đẹp, mỹ thuật tinh tế, cảnh quan thơ mộng. Dù nằm ở vị trí đồi núi cao, rừng thông bạt ngàn, gần sông suối, đồng ruộng hay ngay cả trong thành phố cũng vẫn là những hình ảnh mà tôi từng nhìn thấy từ tuổi nhỏ, từng đem theo vào những giấc mơ về sau khi xa Huế nghìn dặm.

Thành phố Huế và dòng sông Hương nhìn từ khách sạn Imperial


Hai ngày ở Huế, chúng tôi ở trong một khách sạn nhìn xuống dòng sông Hương. Khung cảnh thật đẹp và mơ màng. Xa xa là núi Ngự Bình. Nhìn từ trên cao, dòng sông xanh ngắt uốn khúc quanh quanh thật mỹ miều. Tôi thầm nghĩ ngoài lý do phong thủy, phong cảnh Huế hữu tình như thế cho nên các chúa Nguyễn ngày xưa đã chọn nơi này làm kinh đô. Tôi nhận ra phía trái khách sạn là một trong những ngôi nhà cũ gia đình tôi đã ở từ những năm trước 1965. Đi về hướng ấy thêm chừng 100 m nữa là ngôi trường tiểu học của tôi. Hình bóng cha mẹ tôi dường như vẫn ở đâu đó quanh đây. Tôi có cảm giác như mẹ tôi đi cùng, và bà đã rất vui khi được cùng các con "về quê", một mong ước mà có lẽ bà đã chưa kịp thực hiện trước ngày đi xa.

Trên dòng Hương giang

Nếu kể cả một số ngôi chùa ở Đà Nẵng và Hội An cũng trong chuyến đi này như chùa Bảo Quang, chùa Bà Đa và đẹp nhất là chùa Linh Ứng - Bãi Bụt, Đà Nẵng với tượng Phật Quán Thế Âm cao 67 m trên ngọn đồi thuộc bán đảo Sơn Trà, thì trong chuyến hành hương ngắn ngày về quê mẹ lần này chị em chúng tôi đã viếng được hơn 15 ngôi chùa. Riêng những ngôi chùa Huế, còn nhiều cổ tự mà tôi chưa đến, cũng trong dịp này vô tình biết được, đã làm cho tôi mong muốn sẽ có những chuyến hành hương kế tiếp.

Tháng 8 - 2013
NGUYỄN DIỆU TÂM

Nguồn tham khảo lịch sử: Dư địa chí Thừa Thiên, Huế
Hình ảnh: Nguyễn Diệu Tâm
Xem thêm:
 https://picasaweb.google.com/110605700772018936184/NhungNgoiChuaHue
(*) http://ngdieutam.blogspot.com/2012/08/lac-buoc-rung-thien.html

Chùa Từ Hiếu mùa hoa mưng ( lộc vừng) - Nguồn: ww.lieuquanhue.vn


Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

KHÔNG CÒN MẸ

Dẫu biết sẽ có ngày
Con xa mẹ, mẹ ơi!
Nước mắt không ngừng chảy,
Trong lòng con giờ này.

Ai cũng chỉ một mẹ,
Mẹ mất rồi mới hiểu,
Tìm đâu mà gặp mẹ,
Mẹ đi mãi, không về!

Thuở nhỏ chờ mẹ về,
Mẹ đi chợ chút thôi!
Con ngồi đợi bên hè,
Thao thức chờ bóng mẹ.

Chiếc kẹo, miếng bánh ngon,
Mẹ dành cho con trọn.
Cả một đời lo toan,
Dẫu con giờ đã lớn.

Con đi xa mẹ chờ,
Con về muộn mẹ mong,
Về nhà chồng mẹ nhớ.
Lo con mẹ bơ vơ!

Như đứa trẻ không rời,
Vòng tay mẹ thương yêu,
Con giờ ngơ ngác đợi.
Mẹ hiền đã về trời...

* NGUYỄN DIỆU TÂM
11-07-2013, ngày mất Mẹ

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

HUYỀN THOẠI VÀ BI KỊCH


"Có bao giờ em tin,
Rằng anh sẽ xây một bảo tàng?
Như Picasso có thời kỳ Xanh, thời kỳ Hồng,
Anh sẽ có thời kỳ trắng, tím, hồng, nâu...." (1)
Những câu bắt đầu trong bài thơ "Bảo tàng Tình yêu" tôi viết ngẫu hứng, đã nhắc đến một danh họa thiên tài mà thế giới ngưỡng mộ. Vì tôi là một trong những người ngưỡng mộ đó nên không phải bỗng dưng mà tôi nhớ đến "Thời kỳ Xanh, thời kỳ Hồng" của ông.
Vào những năm 80, đời sống còn nhiều vất vả, có một người thường đem sách hội họa mỹ thuật đến phòng vẽ của chúng tôi bán và cho trả góp. Tôi chọn 2 bộ để mua, Picasso và Van Gogh. Mỗi bộ gồm 2 cuốn. Riêng bộ Picasso thì volume I dày 380 trang, volume II 360 trang, tổng cộng 740 trang. Giá bán 70 USD một bộ. Tôi để dành tiền mua được sách. Mua rồi tôi quý như vàng, sách được giữ gìn cẩn thận sạch sẽ, đến giờ vẫn còn mới, vẫn đi theo tôi suốt 30 năm trời. Mỗi lần cầm đến cuốn sách tôi lại thấy cả những ngày trong quá khứ trở về và niềm yêu thích hội họa vẫn không thay đổi trong tôi, nó cứ lớn lên và lớn lên mãi, như một tình yêu vô tận.
Những thiên tài, danh họa như Claude Monet, Edgar Degas, Henri Matisse, Gustav Klimt, Paul Gauguin, Vincent Van Gogh, và còn rất nhiều họa sĩ trên thế giới nữa là những kho tàng tuyệt tác vô tận mà mỗi lần được xem những tác phẩm của họ là tôi như mê man cứ dõi theo không muốn dừng. Từ tác phẩm, tôi thường thích tìm đọc về cuộc đời của họ. Không ai giống ai, nhưng hầu hết để đạt được thành công ngoài tài năng thiên phú, họ đã phải đánh đổi rất nhiều để đi đến mục đích. Mỗi một cuộc đời là một cuốn phim dài, có nụ cười và nước mắt, có hạnh phúc có đau thương, sống và chết, đằng sau ánh hào quang của một huyền thoại lắm khi là một bi kịch đau buồn, và Pablo Picasso là một trong những thiên tài đã không thoát khỏi định mệnh đó. 

1- HUYỀN THOẠI  VỀ MỘT THIÊN TÀI:
Trong nhiều bài viết về Pablo Picasso, người ta thường nhắc đến huyền thoại về nhà danh họa này ( The Legend of the Artist ). Suốt cả cuộc đời, ông dành cho hội họa và nghệ thuật không mệt mỏi, cống hiến cho thế giới một số lượng lớn tác phẩm và sáng tạo độc đáo, một trong những họa sĩ tiền phong mở đường cho hội họa hiện đại của thế kỷ 20.
Người ta thường phân loại lượng tác phẩm đồ sộ của Picasso thành nhiều thời kỳ trong cuộc đời ông. Tuy còn nhiều tranh cãi, nhưng phần lớn đều chấp nhận các thời kỳ sáng tác của ông từ Thời kỳ Xanh (1901-1904), Thời kỳ Hồng (1904-1906) đến Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - Điêu khắc (1908–1909), Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912) và Thời kỳ Lập thể Tổng hợp (1912-1919). Ngoài ra còn có chủ nghĩa Cổ điển - Siêu thực, và giai đoạn sau cùng của ông.
Pablo Picasso sinh năm 1881 và mất năm 1973, là một họa sĩ và nhà điêu khắc người Tây Ban Nha, họa sĩ nổi bật nhất, một trong 10 họa sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn nhất thế giới của thế kỷ 20. Xuất thân trong một gia đình nghệ thuật, cha là họa sĩ theo trường phái Hiện thực, ông đã sớm bộc lộ năng khiếu về hội họa của mình. Khi mới 14 tuổi, Picasso đã hoàn thành tác phẩm Portrait of Aunt Pepa (Chân dung dì Pepa), một bức chân dung gây ấn tượng sâu sắc đến mức Juan-Eduardo Cirlot, nhà thơ, nhà phê bình nghệ thuật của Tây Ban Nha, đã đánh giá rằng "không nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những tác phẩm lớn nhất trong lịch sử hội họa Tây Ban Nha".
Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu bắt đầu với tác phẩm nổi tiếng Những cô nàng ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon)  năm 1907.
Sau Thế chiến thứ nhất, Picasso bắt đầu thực hiện các tác phẩm theo trường phái Tân cổ điển (Neoclassicism). Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Picasso, bức Guernica (1937) đã được sáng tác trong thời kỳ này. Bức tranh mô tả cuộc ném bom vào Guernica của phát xít Đức trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha ( 17.7.1936 - 1.4.1939 )

Guernica - Tranh Pablo Picasso 1937 - Bảo tàng Reina Sofia (*)

Những lĩnh vực nghệ thuật mà ông tham gia rất thành công. Người ta ca ngợi những tác phẩm của ông, từ hội họa đến điêu khắc. 
Không chỉ thế, ông còn là một nhà thơ và tác giả của nhiều tác phẩm văn học khác. Tuy đắm mình trong lĩnh vực văn học nhiều năm, nhưng ông không sáng tác một tác phẩm văn chương nào mãi cho đến năm 53 tuổi. Vào năm 1935 ông tạm ngưng vẽ và điêu khắc để tập trung cho thi ca. Sau đó khi quay trở lại với lĩnh vực chính của mình, ông vẫn tiếp tục niềm đam mê văn chương, sáng tác hàng trăm bài thơ, 2 vở kịch "siêu thực", một vở kịch hài "Bắt được đuôi Ham muốn"( Le Désir attrapé par la queue ) viết miệt mài trong vòng 3 ngày vào năm 1941 và  "Bốn Cô Gái nhỏ" (Les Quatre Petites Filles-1949) cùng tác phẩm văn xuôi "Tang lễ Bá tước Orgaz" (The Burial of the Count of Orgaz - 1959). Tuy nhiên, dù nỗ lực trong văn chương, nhưng Picasso vẫn được xem như đã làm thơ theo cách ông vẽ tranh hay điêu khắc. Vào tháng 5 năm 1949 Alice B. Toklas,  viết: "Rắc rối của Picasso là ông tự cho phép mình được tâng bốc như thể ông chính là một nhà thơ" (2)
Khi qua đời, Picasso được an táng tại công viên Vauvenargues ở Vauvenargues, Bouches-du-Rhône, nước Pháp.
Tác phẩm ông để lại gồm có 1.800 bức tranh sơn dầu, 30.000 bản tranh, 7.000 bức ký họa phác thảo và có khá nhiều tác phẩm khó hiểu.
Picasso có một số bức tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới như: 
* Bức "Nude on a black armchair" ( Cô gái khỏa thân trên chiếc ghế bành đen ) - được bán với giá 45,1 triệu USD năm 1999. 
* Bức Les Noces de Pierrette ( Đám cưới của Pierrette ) - được bán với giá hơn 51 triệu USD năm 1999 
* Bức Garçon à la pipe ( Chàng trai với tẩu thuốc ) - Bức tranh được Picasso vẽ vào năm 1905 khi ông mới 24 tuổi, được bán với giá 104 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's tháng 5 năm 2004 đã lập kỷ lục thế giới về giá cho một tác phẩm nghệ thuật. 
* Bức Dora Maar au Chat ( Nàng Dora Maar với con mèo ) - được bán với giá 95,2 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's tháng 5 năm 2006.

Garçon à la pipe  - Tranh: Pablo Picasso 1905 (*)

2- BI KỊCH GIA ĐÌNH :
Về đời sống riêng tư của Picasso, ông có hai lần cưới vợ, nhiều bạn gái và nhân tình.
Người vợ đầu tiên của ông là Olga Khokhlov, một nữ vũ công ba lê người Nga. Họ cưới nhau năm 1918, sau khi sinh con trai Paolo, Olga bị Picasso bỏ rơi nhưng ông không ly dị vì sợ phải chia một nửa tài sản của mình cho đến khi bà qua đời vào năm 1955 vì bệnh ung thư. Năm 1971 vào tuổi 69, Picasso cưới người vợ thứ hai, Jacqueline Roque. Giữa quãng thời gian này, Picasso gặp gỡ và yêu nhiều phụ nữ khác.
Năm 1927 Picasso gặp cô gái 17 tuổi Marie-Thérèse Walter và bắt đầu đi lại bí mật với cô. Với Marie-Thérèse, Picasso cũng có một người con gái, Maya. Marie-Thérèse luôn sống với hy vọng hão huyền rằng người họa sĩ nổi tiếng sẽ lấy cô làm vợ và cô đã treo cổ tự vẫn bốn năm sau cái chết của Picasso. Nhà nhiếp ảnh, họa sĩ, nhà thơ Dora Maar cũng là một người tình lâu năm của Picasso. Hai người gắn bó trong giai đoạn cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940. Sau đó Dora Maar bị trầm cảm và họ chia tay vào năm 1946, ba năm sau khi Picasso bắt đầu có quan hệ với một phụ nữ tên là Françoise Gilot, trẻ hơn ông 40 tuổi và có 2 con nữa là Claude và Paloma. Khác với những người tình khác của họa sĩ, chính Françoise là người rời bỏ ông vào năm 1953. Đây là một cú sốc với Picasso. Sau đó ông đã trả thù bà bằng đám cưới với Jacqueline Roque vào năm 1961 khi Gilot ly hôn với chồng và muốn quay trở lại. Vào năm 1964 Françoise Gilot viết cuốn sách "Sống với Picasso" ( Life with Picasso ) mô tả về việc ông bạo hành và bội tình khiến bà phải đem con rời xa ông.
Những người vợ và người tình của Picasso đều là những người phụ nữ tài năng, xinh đẹp, và phần lớn những tác phẩm của ông đã vẽ những người phụ nữ này.
Picasso đã sống với Jacqueline, người vợ thứ hai, cho đến khi ông qua đời. Cuộc hôn nhân kéo dài 11 năm và ông đã vẽ cho bà hơn 400 bức chân dung. 13 năm sau khi Picasso mất, bà tự tử bằng súng.

Olga Khokhlova - Tranh: Pablo Picasso 1923 (*)
 
Marie-Thérèse Walter - Tranh: Pablo Picasso (*)

3- VÀ NGƯỜI THỪA KẾ:


Khi qua đời, ông để lại rất nhiều tác phẩm của mình và một bộ sưu tập giá trị của nhiều họa sĩ khác mà ông sở hữu. Vì không để lại di chúc, một phần bộ sưu tập này được dùng để trả thuế cho chính phủ Pháp, được trưng bày tại Bảo tàng Museé Picasso tại Paris. Năm 2003, những người thân của họa sĩ đã cho khánh thành một bảo tàng tại thành phố quê hương ông, Málaga, đó là Bảo tàng Museo Picasso Málaga.
Trong số 4 con của Picasso, Paolo Picasso - người con trai đầu tiên của ông và Olga Khokhlova lấy vợ và có được 3 người con là Pablito, Marina và Bernard Picasso. Nhưng cuối cùng, người thừa kế di sản đồ sộ còn lại này của Picasso lại chính là người cháu gái Marina Picasso.
Marina được sinh ra tại Cannes vào năm 1950. Cuộc sống của bà được đánh dấu bằng sự đau khổ và bi  kịch của cuộc sống gia đình xung quanh một người chủ gia đình ích kỷ, độc tài và tàn nhẫn. Bà đã kể lại tất cả trong cuốn hồi ký mang tên "Ông nội" ( Grand-père ) xuất bản năm 2001).
Trong cuốn hồi ký, Marina bắt đầu bằng hồi ức về tuổi thơ của mình, đầy đau khổ và nghèo túng vì bà nội và cha mẹ cô bị Picasso ruồng bỏ. Người có ảnh hưởng nhất trong cuộc đời của Marina mà cô yêu quý chỉ là bà nội Olga, người vợ đầu tiên của Pablo Picasso. 
Dora Marr au chat - Tranh: Pablo Picasso 1941 (*)

Francoise Gillot - Tranh: Pablo Picasso (**)


Paolo Picasso, con trai của Pablo Picasso và Olga Khokhlova và là cha của Marina, là một kẻ nghiện rượu và tay đua xe phóng đãng sống bám vào gia đình từ cha mình và là tài xế cho chính họa sĩ. Pablo Picasso luôn tìm cơ hội để khuyên nhủ con trai nhưng đành đau khổ cam chịu thất bại. Trong "Ông nội," Marina giải thích rằng ông nội mình đã không chỉ là một Picasso thành công sáng chói trong nhiều lĩnh vực, mà còn thành công trong việc khiến cho con trai mình trở thành kẻ ăn bám, không bao giờ độc lập. Sau một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, Paolo tự hủy hoại cuộc đời mình trong men rượu trong khi vợ ông, Emilian, chỉ muốn quyến rũ người cha chồng mà không màng chăm sóc chồng con của mình.

Jacqueline Roque - Tranh: Pablo Picasso (*)

Pablito, anh trai của Marina, bị ông nội cũng như cha mẹ từ bỏ, đã không còn ai khác hơn là Marina để bám víu mà sống. Một ngày kia, Pablo Picasso, người tự gọi mình là "mặt trời" hay "bậc thầy" đã nói cho Marina biết rằng sau khi ông chết, gia đình sẽ bị chìm đắm trong tai họa. Dự đoán đã thành sự thật: một vài ngày sau cái chết của nhà danh họa vào năm 1973, Pablito đã cố tự tử bằng cách uống một chai thuốc tẩy vì Jacqueline Roque, người vợ thứ hai của Picasso đã từ chối không cho Pablito đến dự đám tang của ông nội mình. Pablito qua đời sau ba tháng sống trong đau khổ. Hai năm sau đến phiên Paolo, cha của Marina chết vì rượu. Bốn năm sau, Marie-Therese Walter, người tình của Picasso, treo cổ tự vẫn và 13 năm sau người vợ thứ hai Jacqueline Roque tự tử bằng một phát súng. Picasso đã khống chế cuộc sống của gia đình ông như cách ông khống chế các bức tranh và tác phẩm điêu khắc của mình. Ông ra đi và để lại cho gia đình một đống đổ nát.
Marina Picasso trở thành người sống sót cuối cùng còn lại của dòng họ Picasso, các thành viên khác của gia đình ông đều bị hủy họai, xâu xé dằn vặt nhau. Về sau, bà đã nói rằng không ai trong gia đình của bà có thể thoát khỏi ám ảnh của thiên tài, “vi khuẩn" Picasso. Chính bà cũng đã phải cần đến 14 năm điều trị tâm lý để tự giải thoát.
Marina Picasso thừa hưởng một gia tài đồ sộ của nhà danh họa, với hơn 400 bức tranh và gần 7.000 bản phác thảo, bản vẽ và tác phẩm điêu khắc thường xuyên gửi trên toàn thế giới vào dịp triển lãm và trong các sự kiện dành riêng về ông nội của bà.
Từ năm 1990, với tổ chức Marina Picasso Foundation, bà đến Việt Nam xây dựng trại trẻ mồ côi và 2 bệnh viện nhi. Ngoài ra Marina Foundation còn tổ chức đào giếng ở các thôn làng xa xôi của Việt Nam, gửi thường xuyên các chuyến tàu chở sữa đến cho các viện mồ côi, bệnh viện, cấp học bổng và trợ cấp cho nông nghiệp Việt Nam. Về sau bà có nhận 3 trẻ em mồ côi người Việt Nam làm con nuôi. 

4- MARINA PICASSO VÀ TRẺ EM MỒ CÔI VILLAGE OF YOUTH, THỦ ĐỨC:
Vào năm 1992, tôi có nhận làm theo đơn đặt hàng một bức tranh sơn mài vẽ bà Marina Picasso cùng với các trẻ em ở làng trẻ mồ côi The Village of Youth. Lúc đó tôi có phần ngạc nhiên và thắc mắc vì sao cô cháu gái của nhà danh họa Picasso lại chọn Việt Nam làm nơi giúp đỡ từ thiện. Thời gian trôi qua, tôi không nhớ đến bà mà chỉ vẫn còn yêu thích những bức tranh của Picasso, đặc biệt là những bức tranh ông sáng tác trong Thời kỳ Xanh và Thời kỳ Hồng.

Marina Picasso và các trẻ em mồ côi tại Village of Youth - Thực hiện: Nguyễn Diệu Tâm




Vài ngày trước đây, trong trang Face Book của Mia Feigelson, một nhà quay phim và quảng bá cho nghệ thuật, tình cờ tôi xem được những bức tranh Picasso đã vẽ Olga Khokhlova thuở mới yêu nhau và tìm thấy bài viết về người vợ đầu tiên bất hạnh này của ông, trong đó có một đoạn nói đến việc cô cháu gái của hai người đã đến Việt Nam sử dụng một phần tài sản của ông nội để làm từ thiện.
Và tôi đã kiếm tìm thông tin qua Internet để hiểu thêm về người phụ nữ này cùng cô cháu gái của họ. Tôi mới hiểu ra lý do vì sao Marina đã thành lập tổ chức Marina Picasso Foundation và làm từ thiện tại Việt Nam.  Đồng thời cảm thấy chua xót cho số phận của những người mà khi không biết, không hiểu, ta đã nghĩ rằng họ rất hạnh phúc và hãnh diện vì từng có mối liên hệ tình cảm, gia đình hay mang trong mình dòng máu của một thiên tài vĩ đại.
Theo bài viết trong trang web babelio.com, nói đến Marina Picasso, là giáo viên trong một trung tâm cho người khuyết tật, ở tuổi 25 đã thừa hưởng một tài sản rất lớn và biệt thự La Californie tại thành phố Cannes nơi Picasso sống sau cùng với người vợ thứ hai, và cũng là nơi cô từng bị ông nội xua đuổi vào tuổi ấu thơ nghèo khổ, khi ông ruồng bỏ bà nội và gia đình cô. Dần dần, người phụ nữ trẻ học được cách chế ngự ngôi nhà khổng lồ này. Cô đã phục hồi nội thất và sắp xếp các phòng nghỉ dưỡng cho con cái, Gaël và Flore, hai con với người tình đầu tiên của cô. Sau đó bắt đầu treo một vài bức tranh của ông nội Pablo Picasso. Ngày nay, La Californie có thêm ba cư dân nữa, đó là Florian, May và Dimitri, 3 con nuôi người Việt Nam, từ đất nước mà Marina Picasso Foundation đã thành lập hai trại trẻ mồ côi. Marina nói: "Đó là cách tôi phân phối lại di sản này và cảm thấy bình an với chính mình. Bây giờ tôi ổn. Rất ổn”. Marina không còn có bất kỳ mối quan hệ với những người mà cô gọi là "những người thừa kế của mình”, là những nạn nhân của bi kịch gia đình. Và để giải thích lý do, cô nhắc lại câu nói của Picasso với người sáng lập tạp chí "Cahiers d’Art” : "Mỗi một bức tranh là một khoản tiền thêm vào. Ở nhà tôi, mỗi một bức tranh là một khoản  tàn phá." (3)
Như ông đã từng nói: "Khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi nói với tôi rằng: Nếu con đi lính, con sẽ trở thành một vị tướng. Nếu con đi tu, con sẽ là một giáo hoàng. Thay vào đó, tôi trở thành một họa sĩ và nổi loạn thành Picasso."(4)
Ở đây Picasso đã nói đến "sự tàn phá" nhưng có lẽ ông đã nghĩ đến đồng tiền là tác nhân chứ không hề nghĩ rằng chính thiên tài "nổi loạn" Picasso đã gây ra bi kịch gia đình. 

* NGUYỄN DIỆU TÂM

Viết theo nguồn tham khảo và lược dịch từ các trang webs:
http://www.bacfrancais.com/bac_francais/biographie-marina-picasso.php
http://www.babelio.com/auteur/Marina-Picasso/28111
http://www.facebook.com/MiaFeigelson
http://en.wikipedia.org/wiki/Pablo_Picasso
Hình ảnh: 
(*) Wikipedia, Wikipaintings.org  
(**)  sapergaleries.com/PicassoWomen

(1) Bảo Tàng Tình Yêu
http://nthqn.org/index.php/tho/100-nguyen-dieu-tam/1112-bao-tang-tinh-yeu
(2) "The trouble with Picasso was that he allowed himself to be flattered into believing he was a poet too".
Alice B. Toklas ( 1877-1967 ) người đã cùng với Gertrude Stein thành lập một salon thu hút các văn sĩ Mỹ hải ngoại như Ernest Hemingway, Paul Bowles, Thornton Wilder, Sherwood Anderson, và các họa sĩ tiền phong bao gồm Picasso, Matisse, Braque )
(3) "When I was a child, my mother said to me, "If you become a soldier, you'll be a general. If you become a monk you'll end up as the pope. Instead, I became a painter and wound up as Picasso." - Pablo Picasso
(4) "Un tableau est une somme d’additions. Chez moi, un tableau est une somme de destructions" - Pablo Picasso 
* Những hồi ký về Picasso viết  từ những thành viên trong gia đình ông:
1- "Sống với Picasso" ( Life with Picasso, 1964 ) Françoise Gilot
2- "Ông nội" ( Grand-père, 2001 ) Marina Picasso
3- "Câu chuyện thật của gia đình" ( Picasso: The Real Family Story, 2004 ) Olivier Widmaier Picasso, cháu ngoại của Picasso và Marie-Thérèse Walter, con trai của Maya, đã viết cuốn sách Picasso: The Real Family Story tiết lộ những bí ẩn của cuộc đời huyền thoại người đã sáng lập hội họa hiện đại, chống lại những vu khống về ông.